Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS). Chỉ giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mới cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Vì xã hội lên án gay gắt nên mọi người thường quên rằng trong luật có điều khoản về tội ngoại tình. Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoại tình là vi phạm chế độ một vợ một chồng và có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến
khoản 1 điều 147 bộ luật hình sự năm 1999 quy định "người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi …
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. 4. Mẫu đơn tố cáo Đảng Viên ngoại tình
Do đó, hành vi ngoại tình hay chung sống với nhau như vợ chồng đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Đối tượng phạm tội ngoại tình bao gồm: Pháp luật công nhận và bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng .
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
hgp7F. Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn 24/7 1900 6198 Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong chế định hôn nhân và để đảm bảo nguyên tắc này không bị vi phạm, pháp luật Việt Nam đặt ra những quy định về hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Vậy, tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định như thế nào? Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 24/7 1900 6198 Chế độ một vợ một chồng là gì?Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồngCác yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồngChủ thể của tội phạmMặt chủ quan của tội phạmMặt khách quan của tội phạmKhách thể của tội phạmXử phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồngKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Hôn nhân là dựa trên cơ sở tình yêu một nam một nữ khi họ mong muốn được về chung sống với nhau và tạo thành một gia đình. Theo đó, chế độ một vơ một chồng đảm bảo được tình yêu giữa họ có thể bền vững và duy trì hạnh phúc về sau cho một gia đình. Hôn nhân một vợ một chồng là điều vô cùng quan trọng trong cuộc sống lâu dài. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa trong thời kỳ hôn nhân chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp và là quan hệ hôn nhân duy nhất. Chế độ một vợ một chồng là một trong những nguyên cơ bản của hôn nhân. Hôn nhân được tiến bộ, tự nguyên và bình đẳng giữa vợ và chồng, thì chế độ một vợ một chồng là nguyên tắc được áp dụng. Theo đó, hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân được xác lập khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc xác lập này được thực hiện giữa một người vợ với một người chồng và trong thời kỳ hôn nhân cũng vậy. Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Luật Hôn nhân và gia đinh 2014 quy định “Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình” tại Điều 2 “Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình 1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. 2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. 4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình. 5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.” Những nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình được kế thừa và được thực hiện từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và được sửa đổi bổ sung tới nay để hoàn thiện hơn. Những nguyên tắc này nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Một là, hôn nhân là tự nguyện, tự do, tiến bộ và dựa trên cơ sở tình yêu của hai người với nhau Hai là, hôn nhân một vợ một chồng trong đó vợ chồng phải bình đẳng với nhau và phù hợp với quy luật tự nhiên, phát triển tâm lý của con người và đạo đức xã hội Ba là, hôn nhân một vợ một chồng là cơ sở để xây dựng hạnh phúc gia đình Xem thêm bài viết vi phạm chế độ một vợ một chồng Phát hiện vợ, chồng ngoại tình, có nên ly hôn không? Các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cần đầy đủ các yếu tố cần và đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm này cần thêm yếu tố “người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc chồng hoặc một trong hai người phải là người đang có vợ hoặc chồng”. Độ tuổi của chủ thể tội phạm này là những người ở độ tuổi đủ 16 tuổi trở lên. Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội đã nhận thức rõ được hành vi của mình, biết được họ đã vợ hoặc chồng nhưng vẫn kết hôn và chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. Hành vi này là hành vi cố ý, do đã thấy trước được hậu quả nghiêm trọng xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng vẫn muốn hậu quả đó tới . Đối với tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì người phạm tội thường không quan tâm tới hậu quả, vì mục đích của họ là được sống chung với người khác. Mặt khách quan của tội phạm Người phạm tội này có những hành vi sau Một là, Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Hai là, Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Ba là, Có hành vi gian dối với cơ quan Nhà nước để được đăng ký kết hôn hay tổ chức đám cưới. Khách thể của tội phạm Vi phạm nghiêm trọng chế độ một vợ một chồng – nguyên tắc cơ bản của chế hộ hôn nhân và gia đình; xâm hại tới mối quan hệ gia đình, hôn nhân mà một vợ một chồng đã xây dựng Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn 24/7 1900 6198 Xử phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồng Tùy vào mức độ vi phạm mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Về xử lý hành chính được quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ – CP như sau “Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 1. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong các hành vi sau a Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;” Vi phạm chế độ một vợ một chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 quy tại Điều 182 nếu thuộc các trường hợp như sau “Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm a Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.” Việc chung sống như vợ chồng hay kết hôn giữa người có vợ hoặc chồng với người chưa vợ hoặc chồng đều được coi là hành vi vi phạm nếu biết được người mình đang sống cùng đã có vợ hoặc chồng nhưng vẫn cố ý sống cùng. Việc này đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và đã làm ảnh hưởng hay phá vỡ cuộc sống hạnh phúc của cặp vợ chồng. Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật. Hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info
Khách thể Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại cũng chính là giữ vững nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình. Mặt khách quan Đây là tội phạm có cấu thành hình thức nên để trở thành tội phạm thì người phạm tội phải có đầy đủ cả 03 yếu tố * Hành vi Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì người phạm tội thực hiện một trong các hành vi sau đây – Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. + Trong đó, theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình LHNGĐ năm 2014 thì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn Điều 8 và đăng ký kết hôn Điều 9. + Mặt khác nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 2 LHNGĐ 2014 nêu rõ “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.” – Người nào đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Trong đó, Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung coi nhau là vợ chồng khoản 7 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình. * Hậu quả Việc thực hiện hành vi nêu trên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hậu quả xảy ra, đó là + Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; + Hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; + Hoặc làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; + Hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Lưu ý Việc quy định về hậu quả như trên tại BLHS 2015 đãcó sự thay đổi so với BLHS 1999. Theo khoản 1 Điều 147 BLHS 1999 quy định Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”. Tuy nhiên, cũng không có một văn bản cụ thể nào hướng dẫn rõ ràng như thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng” tại Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng của BLHS 1999 cả. Do đó, khi giải quyết Tòa án sẽ tùy trường hợp mà căn cứ vào hậu quả thực tế của vụ việc để xem xét có cấu thành tội phạm hay không. Còn tại BLHS 2015 như đã phân tích ở trên thì điều luật đã cụ thể hóa các hậu quả của hành vi mà nếu người phạm tội gy ra một trong các hậu quả đã quy định thì sẽ cấu thành tội phạm. * Mối quan hệ nhân quả Hành vi và hậu quả như đã nêu trên có mối quan hệ nhân quả với nhau. Chủ thể Là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo pháp luật quy định tại Điều 12 BLHS 2015. Có thể thấy, đối với hành vi kết hôn thì không cần xác định độ tuổi cụ thể vì bản thân nếu kết hôn thỏa mãn điều kiện để kết hôn thì đã bao gồm cả độ tuổi đủ để chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Còn trường hợp chung sống như vợ chồng của người chưa có vợ, có chồng thì người từ đủ 16 tuổi trở lên cũng có thể phải chịu trách nhiện hình sự về tội phạm này. Mặt chủ quan Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là việc thực hiện hành vi với lỗi cố ý gián tiếp + Về ý chí người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thấy trước được hậu quả có thể xảy ra. + Về lý trí mong muốn thực hiện hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng và để mặc cho hậu quả xảy ra.
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài 24/7 1900 61981. Khách thể của tội phạmKhách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại cũng chính là giữ vững nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia Chủ thể của tội phạmChủ thể của tội phạm này là Ngừơi đang có vợ, có chồng hoặc người chưa có vợ, có chồng nhưng biết rõ bên kia có chồng hoặc có vợ mà vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người Mặt khách quan của tội phạm- Người phạm tội có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ hoặc có chồng hoặc tuy chưa có vợ, chồng nhưng biết rõ người khác đang có vợ, có chồng mà vẫn có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đó. Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là trường hợp đôi bên trai gái hoặc đã tiến hành tổ chức đám cưới theo tục lệ hoặc đã có giấy đăng ký kết hôn hoặc tuy không đăng ký kết hôn nhưng đã chung sống với nhau, tự coi nhau là vợ chồng trước gia đình và mọi Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác chỉ cấu thành tội khi thoả mãn một trong hai dấu hiệu Đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là hậu quả gây ra cho hạnh phúc gia đình của hôn nhân trước như làm cho gia đình tan vỡ dấn đến li hôn hoặc dẫn đến việc tự sát của người vợ,… hoặc hành vi vi phạm được tiếp tục thực hiện sau khi đã có quyết định xử phạt hành chính về hành vi Mặt chủ quan của tội phạmLỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụĐịa chỉ Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà NộiVăn phòng giao dịch Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà NộiĐiện thoại 04 - Tổng đài tư vấn pháp luật 1900-6218E-mail[email protected], hoặc E-mail [email protected].
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tương ứng với Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng BLHS 1999. Các nội dung liên quan Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện Tội tổ chức tảo hôn Tội loạn luân Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại >>> Xem thêm Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm a Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Mục lục 1. Khái niệm 2. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Khách thể Mặt khách quan Mặt chủ quan Chủ thể 3. Về hình phạt 1. Vi phạm chế độ một vợ, một chồng là gì? Vi phạm chế độ một vợ, một chồng được hiểu là trường hợp nam, nữ đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc tuy chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Thế nào là chung sống như vợ chồng? Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã định nghĩa 7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Việc nam nữ tổ chức sống chung với nhau, coi nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn được coi là chung sống như vợ chồng. Việc chung sống này được chứng minh bằng việc họ có đời sống sinh hoạt chung, có tài sản chung, có con chung với nhau và được mọi người xung quanh thừa nhận là vợ chồng. 2. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Mặt khách quan Mặt khách quan của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có các dấu hiệu sau đây a Về hành vi. Có một trong các hành vi sau – Có hành vi kết hôn trái phép với người khác trong khi người phạm tội đang có vợ hoặc có chồng một cách hợp pháp hoặc được xác định là hôn nhân thực tế và quan hệ hôn nhân đó còn đang tồn tại hoặc tuy chưa có vợ, có chồng mà kết hôn trái pháp luật với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ hợp pháp. Việc kết hôn trái pháp luật thể hiện qua việc dùng thủ đoạn khai báo gian dối là chưa có vợ hoặc chưa có chồng, hoặc mua chuộc cán bộ có thẩm quyền để tiến hành việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới giữa nam, nữ trong khi chính họ đang có vợ hoặc chồng. – Có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác. Nếu không thuộc trường hợp kết hôn nếu ở trên thì hành vi chung sống như vợ chồng với người khác cũng cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Hành vi trên được thể hiện ở chỗ đôi nam, nữ mà một hoặc cả hai bên đang có vợ hoặc chồng nhưng lại chung sống với nhau không đăng ký kết hôn và coi nhau như vợ chồng một cách công khai như ở chung một nhà, công khai mối quan hệ vợ chồng với hàng xóm, cha mẹ, bạn bè, có tài sản chung, con chung. Tuy nhiên thực tế về việc xác định dấu hiệu này không dễ dàng vì phần đông việc chung sống ở dạng này thường diễn ra một cách lén lút, bí mật, trừ một số trường hợp khá đặc biệt có sự đồng ý của vợ hoặc chồng cho lấy thêm vợ hoặc chồng khác. Lưu ý – Hôn nhân thực tế, được hiểu là trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký trước chính quyền, không vi phạm điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình và quan hệ này phải xác lập trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực. – Trường hợp người có chồng, có vợ hợp pháp nhưng đang ly thân mà kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng thì vẫn bị coi là phạm vào tội này. – Nếu hậu quả nghiêm trọng xảy ra mà cấu thành một tội phạm khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó. Ví dụ A đi công tác xa đã chung sống với chị B như vợ chồng, nên đã tìm cách giết vợ để được chung sống với B một cách trọn vẹn. Hành vi của A bị truy cứu trách nhiệm về hai tội vì phạm chế độ một vợ một chồng và tội giết người. b Dấu hiệu khác hành vi nói trên phải làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này. Khách thể Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, một trong những nguyên tắc cơ bản quy định Luật hôn nhân và gia đình. Mặt chủ quan Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý trực tiếp. Chủ thể Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, phải đủ tuổi kết hôn nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên và phải là đang có vợ hoặc có chồng hợp pháp, hoặc là người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng biết rõ người khác đang có chồng có vợ, mà vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ, chồng với người đó. Đối với người còn lại mà chưa có vợ hoặc chưa có chồng khi biết rõ bên kia đã có vợ hoặc có chồng mà vẫn đồng ý kết hôn với họ thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này với vai trò đồng phạm. Thực tế có trường hợp đồng tính luyến ái chung sống với nhau như vợ chồng theo chúng tôi thì không thể coi là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. 3. Về hình phạt của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành hai khung, cụ thể như sau a Khung một khoản 1 Có mức phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. b Khung hai khoản 2 Có mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Luật gia Nguyễn Thị Phương Anh - trả lời Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự như sau “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ….”. Tội phạm này xâm phạm đến một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình là nguyên tắc một vợ, một chồng. Người phạm tội có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ hoặc có chồng hoặc tuy chưa có vợ, có chồng nhưng biết rõ người khác đang có chồng, có vợ mà vẫn có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đó. Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là trường hợp đôi bên trai gái hoặc đã tiến hành tổ chức đám cưới theo tục lệ hoặc có giấy đăng ký kết hôn giả mạo giấy tờ chưa vợ hoặc chưa chồng để được đăng ký hoặc tuy không đăng ký nhưng đã chung sống với nhau, tự coi nhau là vợ chồng trước gia đình và mọi người, thường được biểu hiện bằng việc có con chung, tài sản chung; đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn duy trì mối quan hệ đó. Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác chỉ bị coi là phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau Đã gây hậu quả nghiêm trọng là hậu quả gây ra cho hạnh phúc gia đình của hôn nhân trước như làm cho gia đình tan vỡ dẫn đến ly hôn hoặc dẫn đến việc tự sát của vợ hoặc chồng hoặc con của người phạm tội, dẫn đến việc vi phạm pháp luật khác do ghen như cố ý gây thương tích…. Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng tiếp tục thực hiện sau khi đã có quyết định xử phạt hành chính về tội này. Hành vi này bị coi là thực hiện tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà không phụ thuộc vào việc người vợ hoặc người chồng trong hôn nhân trước có đồng ý hay không đồng ý cũng như người vợ hoặc người chồng trong hôn nhân sau biết hay không biết bên kia đang có chồng, có vợ. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Người phạm tội là người đang có vợ, có chồng hoặc người chưa có vợ, có chồng nhưng biết rõ bên kia có chồng, có vợ mà vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đó. Người phạm tội có thể bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm; hoặc phải chịu mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với trường hợp có tình tiết “đã có quyết định của Tòa án tiêu hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
tội vi phạm chế độ một vợ một chồng