Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), là con cả của một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Từ lúc nhỏ ông đã tỏ ra là người có cảm nhận đặc biệt về âm nhạc; Lên 6 tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), 8 tuổi biết đàn cò (đàn nhị), 12 tuổi biết đàn tranh, đánh trống nhạc
Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2014, Trần Đình Sử lại phân chia thành: tự sự, trữ tình, kịch, Tailieu.vn 8 phút trước 1229 Like Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học tây đô lí luận văn học 2 Với hiện thực 3 1 Lê Lưu Oanh - Phạm Đăng Dư (2008), Lí luận văn học, Nxb.
Trưa 16/9, em trai của ông Trần Huỳnh Duy Thức xác nhận với BBC về tin nhà bất đồng ngưng tuyệt thực sau 34 ngày. Trả lời BBC qua điện thoại, ông Trần Huỳnh Duy Tân, em trai của ông Trần Huỳnh Duy Thức, nói: "Anh tôi đã quyết định ngưng tuyệt thực hôm nay, sau chuyến thăm
Trần Đình Sử đã góp phần đào tạo đội ngũ, nâng cấp mặt bằng nghiên cứu nói chung cũng như tạo lập điểm tựa, định hướng và gợi mở cho nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam và văn học thế giới những năm tiếp theo. Hà Nội, 2000- tháng 3/2013 Nguyễn Hữu Sơn Chia sẻ
Sách - Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh: Trần Hưng Đạo (Bản Màu)có giá rẻ nữa, giờ chỉ còn 126,000đ. Suy nghĩ thật lâu, đặt hàng thật nhanh và khui hàng thật mau để review cho bạn bè cùng chung vui hén.
Lịch Sử; Đồng Nhân; Quân Sự; Du Hí; Cạnh Kỹ; Linh Dị; Ngôn tình; Diễn đàn; Đăng nhập / Đăng ký . Thanh Liên Chi Đỉnh Chương 3251 : Trần Tử Long. Người đăng: mac . Ngày đăng: 15:12 20-10-2022. Chương trước Chương tiếp . Tuỳ chỉnh.
PFLbel. Toquoc- Trong vài ba chục năm gần đây việc phiên dịch, giới thiệu và vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và luận văn từ bậc đại học tới sau đại học đã thấy xuất hiện thuật ngữ thi pháp cũng như việc vận dụng thao tác thi pháp học vào tìm hiểu các thể loại, trào lưu, tác gia, tác phẩm văn học tiêu biểu, rõ nhất với văn học trung đại và giai đoạn 1932-1945. Thực tế cho thấy, xét trong mặt bằng tư duy lí luận, khi mà các phương pháp nghiên cứu dừng lại khá lâu ở các bình diện “nhà văn và tác phẩm”, “gương mặt nhà văn”, “đời và thơ”, “văn học và hiện thực”… thì làn sóng nghiên cứu thi pháp quả đã góp phần tiếp thêm sinh khí cho đời sống học thuật. Cho đến nay, thông qua các công trình dịch thuật và từ điển văn học, có thể nói giới nghiên cứu và bạn đọc rộng rãi đã nắm bắt được những vấn đề cơ bản nhất của thi pháp và thi pháp học. Theo quan sát của chúng tôi, một trong những người đi tiên phong trong lĩnh vực này là nhà nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, - GS. TS. Trần Đình Sử. Ghi nhận những đóng góp của ông, nhiều đồng nghiệp và học trò thuộc nhiều thế hệ đã thực hiện công trình tập hợp Thi pháp học ở Việt Nam Nhân 70 năm sinh GS. TS. Trần Đình Sử NXB Giáo dục Việt Nam, H., 2010, 638 trang. Ngoài phần một Toàn cảnh thi pháp học có ý nghĩa khái quát của GS. Trần Đình Sử sách còn có hai phần Tuyển chọn những công trình tiêu biểu gồm 41 mục tiểu luận nghiên cứu tiêu biểu chuyên về thi pháp và những vấn đề liên quan của nhiều tác giả; Ấn tượng Trần Đình Sử tập hợp 23 mục bài hồi ức, kỷ niệm, suy tư của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu, đồng nghiệp và học trò về GS. Trần Đình Sử. Nhìn rộng ra, đây chính là sự tri ân của học giới đối với nhà giáo, nhà lý luận, chuyên gia thi pháp Trần Đình Sử, đồng thời cũng là sự bác bỏ đích đáng tiếng nói lạc lõng, báo động giả về cái gọi là “loạn thi pháp”… Không chỉ là người tham bác, góp phần giới thiệu lý luận thi pháp qua các nguồn tài liệu kinh điển của Nga, Trung Quốc, GS. Trần Đình Sử còn bỏ nhiều công sức cho việc áp dụng thi pháp học vào nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam. Khởi đầu từ tiểu luận Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du Tạp chí Văn học, số 5-1981, Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Tạp chí Văn học, số 6-1983; cùng nhiều công trình nghiên cứu khác, ông góp phần tạo dựng và phát triển chuyên ngành thi pháp văn học Việt Nam trong suốt hơn ba thập kỉ vừa qua. Trong vai trò người mở đường, ông đã dẫn giải và giúp học giới làm quen với hệ thống khái niệm, thuật ngữ thi học như thi pháp học cổ điển, thi pháp học hiện đại, cái nhìn nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật, thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người, giọng điệu, hình thức mang tính quan niệm, hình tượng tác giả Đi qua cả một chặng đường dài, GS. Trần Đình Sử đã có nhiều công trình dịch thuật, giới thiệu ở tầm mức khái quát cũng như đi sâu tìm hiểu từng phương diện thi pháp học với nhiều qui mô khác nhau như Thi pháp Đốtxtôiépxki 1985, Mấy vấn đề lý luận thi pháp tác giả của M. Bakhtin 1992, Giáo trình thi pháp học 1993, Những thế giới nghệ thuật thơ và Thi pháp thơ Tố Hữu 1995, Về thi pháp thơ Đường biên soạn và dịch thuật, 1997, Dẫn luận thi pháp học 1998… Xét về cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu có thể thấy rằng do bản thân đặc điểm nội dung đối tượng quy định nên tác giả thường dựa trên cơ sở nắm vững các thủ pháp, thao tác của thi pháp học đại cương mà tập trung khảo sát thi pháp học chuyên biệt tức là thực hiện việc miêu tả tác phẩm văn học chủ yếu ở các phương diện ngữ âm, từ vựng và hình tượng nhằm xây dựng “mô hình” một hệ thống những thuộc tính có tác động thẩm mĩ của tác phẩm. Định hướng này thế hiện rõ khi tác gia nghiên cứu một số vấn đề thi pháp Truyện Kiều, một số phương diện thế giới nghệ thuật của nhà thơ và tác phẩm thơ, đặc điểm thi pháp thơ Mới và thơ Tố Hữu… Đây cũng chính là những công trình nghiên cứu cơ sở, những bước chuẩn bị công phu và chắc chắn để tiến tới bước tổng kết học thuật chuyên sâu trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1999 và tâm điểm là Thi pháp Truyện Kiều 2001. Đến nay, cả hai công trình tiêu biểu này đều đã được tập hợp trong bộ sách Trần Đình Sử - Tuyển tập, hai tập Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn. NXB Giáo dục, H., 2005 Tập I 888 trang; Tập II 932 trang… Trở lại công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam NXB Giáo dục, H., 1999, 444 trang, GS. Trần Đình Sử trong Phần thứ nhất - Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại đã nhấn mạnh lịch sử vấn đề, giới thiệu phạm vi cũng như các khía cạnh lý luận giao thoa với đề tài. Trên cơ sở nắm vững lý luận thi pháp và tìm hiểu kỹ các công trình nghiên cứu mẫu mực, kinh điển của nước ngoài cũng như thực tế lịch sử văn học dân tộc, ông xác định rõ “Công trình này sở dĩ được gọi là Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam là bởi vì nó được gợi ý từ nhiều công trình nghiên cứu thi pháp văn học trung đại của các tác giả hiện đại nước ngoài, trước hết là các tác giả Nga” đồng thời nhấn mạnh các khía cạnh, mối quan hệ và quá trình phát triển “thi pháp học từ truyền thống tới hiện đại”, “thi pháp văn học trung đại trong thi pháp học hiện đại”, “vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” và chỉ ra sự tương hợp của việc đặt các tác phẩm trung đại “trên các mẫu số chung để nhận ra cái khác biệt và cái độc đáo” tức là đặt trong tầm quan sát “thời gian lớn” của lịch sử văn học. Đồng thời với việc giới thuyết “xét riêng về hệ thống văn học thì có thể xem văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX thuộc phạm trù trung đại”, tác giả cũng rất chú ý đến bình diện lịch sử và mối quan hệ biện chứng khi đặt văn học dân tộc trong quá trình phát triển chung “Xây dựng mô hình chung có tính nhân loại, tính đến đặc thù khu vực và dân tộc có thể cho phép nhìn nhận văn học dân tộc trong bối cảnh chung của nhân loại” Đây cũng là sự thận trọng cần thiết để tránh xu hướng hiện đại hóa văn học quá khứ hoặc rập khuôn máy móc mô hình lý luận văn học nước ngoài vào Việt Nam. Từ việc giới thiệu kết quả nghiên cứu thi pháp văn học trung đại qua một số công trình tiêu biểu, GS. Trần Đình Sử cho thấy vấn đề thi pháp văn học trung đại đã được đặt ra chủ yếu trên bốn phương diện a Quan niệm văn hóa thẩm mĩ, bao gồm quan niệm tổng quát về văn học, về tác giả, về thể loại, về ngôn ngữ nói chung. b Thể loại văn học với hệ thống đặc trưng trong loại hình của nó. c Hệ thống các thủ pháp, các phương pháp nghệ thuật thể hiện cho cách chiếm lĩnh, cảm nhận đời sống của con người trung đại. d Hệ thống từ chương học với các nguyên tắc sử dụng ngôn từ trên các cấp độ. Đó cũng chính là những phương diện chủ yếu được tác giả coi là “sườn khái quát” để triển khai cụ thể ở Phần thứ hai - Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, phần trọng tâm của tập sách gồm 5 chương. Đúng như nhan đề sách “Mấy vấn đề…” có ý nghĩa khơi dẫn, khởi thảo cũng như cảm nhận chuẩn mực của tác giả rằng việc nghiên cứu thi pháp văn học trung đại “là một lĩnh vực hết sức khó khăn”, đòi hỏi phải có cách thức giải quyết hợp lí. Những khó khăn đặt ra không phải chỉ về lí thuyết, về tư liệu, về sự thâm nhập và khả năng phân tích tác phẩm mà còn bởi thách thức của bản thân các giai đoạn, các thể loại vừa không thuần nhất lại phát triển không đồng đều, không theo một quá trình liên tục. Trong khi đó yêu cầu khoa học đặt ra cho công trình là phải miêu tả tác phẩm văn học cá biệt cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, một thể loại, một trào lưu, một giai đoạn và tiến tới bao quát, khái quát những đặc điểm thi pháp văn học của cả thời trung đại kéo dài tới suốt cả một thể kỷ. Đứng trước thực tế ấy, tác giả đã tập trung xem xét văn học trung đại Việt Nam như một hệ thống đặc thù của khái niệm văn học văn, văn chương, văn nghệ và nghệ thuật ngôn từ…, hệ thống thể loại theo kiểu văn tự Hán và Nôm, việc tiếp thu toàn diện hệ thống thể loại văn học chữ Hán của Trung Quốc và khả năng biến đổi - sáng tạo, chức năng thuần túy văn học và chức năng ngoài văn học…, điều đáng chú ý là ở phần viết này tác giả thường đặt đối tượng trong sự đối sánh, so sánh với văn học hiện đại và tương quan giao tiếp với văn học trung đại Trung Quốc để làm nổi bật các sắc thái văn học trung đại Việt Nam. Với công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, do nhiệm vụ cần hướng tới khái quát, tổng kết đặc điểm thi pháp văn học của cả một thời đại mà bên cạnh trọng tâm thi pháp học chuyên biệt, người viết gia tăng áp dụng thi pháp học lịch sử, chú trọng khảo sát sự phát sinh phát triển của các thể loại cũng như đi sâu tìm hiểu ranh giới phân chia phạm vi văn học và ngoài văn học với tất cả sự vận động và đổi thay của chúng. Tùy theo phạm vi và đặc điểm thể loại khác nhau mà tác giả triển khai áp dụng thi pháp học chuyên biệt để xác định kết cấu, tức là các tương quan của tất cả các yếu tố trong chỉnh thể nghệ thuật. Tinh thần chủ đạo của việc phân tích các phương tiện nghệ thuật nhằm xây dựng điểm nhìn nghệ thuật cách hình dung về thế giới có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản của cấu trúc tác phẩm. Quá trình phân tích này thường căn cứ trên ba phương diện chủ yếu là không gian nghệ thuật điểm nhìn và trường nhìn, không gian ám ảnh, không gian ám ảnh, không gian có giới hạn hay đóng và mở…; thời gian nghệ thuật tính tuần tự của văn bản, thời gian tâm lí và các biến thể nhịp điệu thời gian…; và cuối cùng là hình tượng tác giả vai trò cá nhân sáng tạo của cái “tôi”, giọng điệu người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình…. Có thể nói các phương diện trên đã được triển khai sâu sắc và cũng đạt kết quả học thuật rõ nét nhất qua ba chương; Các thể thơ trữ tình, Thể loại truyện chữ Hán, Diễn ca lịch sử và truyện thơ Nôm Chương II, IV và V… Đi sâu xem xét các chương mục chủ đạo trong Phần thứ hai - Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam sẽ thấy tác giả vận dụng khá linh hoạt lí thuyết thi pháp vào từng thực thể, từng đối tượng văn học. Có hai “điểm nhìn” thi pháp học được triển khai nương theo mức độ tính chất điển hình của tác phẩm văn học. Thứ nhất là “cái nhìn thể loại” nhằm khám phá những đặc điểm thi pháp của nhiều thể loại như ngâm khúc “Ngâm khúc đã phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại. Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả năng sáng tác được khúc ngâm dài mà không cần đến cốt truyện” hát nói “Nếu như ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn đau xót đi tìm những giá trị của mình đã bị mất mát thì thể thơ hát nói, một thể thông dụng trong ca trù, lại thể hiện một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, nắm lấy phút giây hiện tại… Nhưng cái chính thơ hát nói là thể thơ điệu nói […], đánh dấu xu hướng mở rộng lĩnh vực của thơ sang địa hạt giọng điệu nói” tiểu thuyết chương hồi chữ Hán “là thể loại văn học gắn liền với lịch sử, trực tiếp lấy lịch sử làm đề tài. Nó thể hiện nổi bật nhất tính chất văn sử bất phân đồng thời cũng thể hiện rõ chất văn học do chú trọng vào tính cách, chi tiết biểu hiện và hình thức tổ chức tác phẩm. Mặt khác, do gắn với lịch sử, số phận nhân vật ít khi có hậu, mà thường là bi kịch. Đây là đặc điểm quan trọng làm cho các tác phẩm văn học viết khác hẳn văn học truyền miệng dân gian” truyện diễn ca lịch sử “Diễn ca lịch sử là một loại truyện vừa có tính chát sử vừa có tính chất văn học, được viết bằng văn vần […]. Thể thức này vừa giống với các tập sử ký, vừa giống với các tiểu thuyết diễn nghĩa, lại pha xen cả Hán lẫn Nôm, tác phẩm Nôm mà tên bằng chữ Hán, một bằng chứng của sáng tác song ngữ […]. Cái chính là nó kể lại lịch sử dân tộc bằng những hình tượng kì vĩ, bằng tưởng tượng táo bạo, bằng ngôn từ ngợi ca nhiệt tình, bằng lập trường dân tộc” Nói riêng ở truyện thơ Nôm, tác giả nêu rõ ý kiến phản biện với định hướng khái quát các đặc điểm thi pháp thể loại truyện Nôm theo quan điểm folklo học và đẩy mảng truyện Nôm sang địa hạt văn học dân gian, đồng thời biện luận cho một quan niệm có phần khác biệt - trong đó nhấn mạnh tư duy sáng tác làm truyện và phương thức lưu truyền bằng văn tự “Truyện Nôm là sản phẩm sáng tạo kết hợp các cốt truyện có sẵn với khả năng tự sự của lục bát. Nó sáng tác để kể, nhưng cũng để xem… Truyện Nôm được sáng tác với ý thức làm truyện rõ ràng đã chứng tỏ tác giả bình dân muốn làm văn học viết. Xem trong truyện Nôm ta có thể tìm thấy nhiều câu tuy đưa đẩy, nhưng đã thể hiện ý thức sáng tác bằng văn tự, cho nên không thể nói giản đơn là sáng tác cốt để kể… Nó không đơn giản là đem truyện cổ tích kể lại bằng thể lục bát, mà là sáng tác thành một dung lượng mới… Ở truyện Nôm tác giả phải sáng tạo lời kể cố định, lời thoại cho nhân vật, lời than, lời bình cho mình… Theo chúng tôi truyện Nôm có một phạm vi tự sự, một “mức độ” cụ thể trong miêu tả sự việc, con người. Đó là chú ý miêu tả lời nói, ý chí, tâm trạng nhân vật. Dù chất lượng nghệ thuật cao thấp khác nhau, nhưng các yếu tố này không bao giờ thiếu” Thứ hai là việc lựa chọn đối tượng phù hợp để phân tích các phương diện biểu hiện nghệ thuật như “quan niệm về con người trong thơ”, chủ yếu là “sự vận động và phát triển của con người trong thơ trữ tình với việc phân xuất đặc điểm theo các giai đoạn thể kỷ X - XIV, thế kỷ XV - hết thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX và con người trong truyện thơ Nôm qua ba “chặng” hình thành và phát triển con người trong truyện thơ Nôm kể bằng thất ngôn Đường luật, trong truyện thơ Nôm bình dân và trong truyện Nôm của văn nhân…; có khi phân tích bao quát “thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ” theo các phương diện cảm nhận nghệ thuật cụ thể gồm thời gian nghệ thuật trong thơ với việc xác định mô hình chung; xem xét các khía cạnh “thời gian vũ trụ bất biến” như vô thời gian trong thơ thiền, thời gian bất biến, tĩnh tại trong thơ nhà nho, thời gian lịch sử trong tương quan với thời gian vũ trụ và thời gian con người trong thơ ca… và không gian nghệ thuật trong thơ với việc khái quát những đặc điểm chung về cảm thụ không gian trong thơ trung đại, không gian nhàn tản thoát tục, không gian hoang dại tiêu điều biến dịch, không gian luân lạc trong thơ Nguyễn Du và các tác giả khác, không gian trần tục hóa trong thơ Hồ Xuân Hương và không gian thế tục hóa vào cuối thời trung đại…; hoặc có khi phân xuất chỉ tập trung khảo sát “thời gian trong truyện và tiểu thuyết” bao gồm thời gian trong truyện chữ Hán với tính lịch sử ước lệ, thần thoại vĩnh hằng và truyện khép kín qua các tác phẩm chủ yếu như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh, Truyền kì mạn lục, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút… và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết chương hồi Việt Nam với đặc điểm ưu tiên miêu tả sự kiện trong thời gian liên tục, sự hình thành công thức phục vụ cho phân tuyến trần thuật đứng từ một khoảng cách xa, đứng ngoài nhân vật điều khiển xâu chuỗi sự việc chứng tỏ một sự tiểu thuyết hóa lịch sử ở bình diện kết cấu sự kiện chứ chưa tiểu thuyết hóa ở khoảng cách trần thuật trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí; các sự kiện nhân quả lồng vào trong thứ tự thời gian, giữa các hồi có thời gian bỏ lửng hoặc thời gian xếp chồng nhưng về cơ bản không làm thay đổi hình thức liên tục, biên niên ở Nam triều công nghiệp diễn chí; có khi thời gian thứ tự truyền thuyết, thời gian trong truyện ghi theo sự kiện thuần túy, kể sự tích theo tuổi và theo năm, năm này kế tiếp theo sau năm khác như trong Tây Dương Gia Tô bí lục…. Như vậy, xuất phát từ bản chất đối tượng tác phẩm mà nhà nghiên cứu khai thác nhiều hơn ở khía cạnh đặc điểm thể loại và thể văn ngâm khúc, hát nói, diễn ca, lịch sử, phú và các thể văn Hán và Nôm trung đại hay các phương diện quan niệm con người - thời gian và không gian nghệ thuật ở các thể thơ trữ tình, thể loại truyện chữ Hán và truyện thơ Nôm. Điều này một mặt cho thấy sức mạnh của lý luận thi pháp tập trung chủ yếu ở việc áp dụng vào dòng văn học chủ lưu mà khó khai thác ở các thể loại và thể văn đường biên như chiếu, tấu, thư, văn tế, bi, tự…; mặt khác lại cho thấy tính chất phức tạp, khó đạt tới tính thống nhất trong quá trình tiếp cận, triển khai các vấn đề chẳng hạn, bạn đọc còn mong có lời giải quan niệm nghệ thuật về con người và không gian trong truyện và tiểu thuyết trung đại, quan niệm về con người - thời gian và không gian trong diễn ca lịch sử, quan niệm về thời gian - không gian nghệ thuật trong truyện thơ Nôm… Trong công trình Thi pháp Truyện Kiều 2001, in trong Trần Đình Sử - Tuyển tập, Tập I. Sđd, GS. Trần Đình Sử triển khai các vấn đề lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu một tác phẩm cụ thể là kiệt tác Truyện Kiều. Qua chương một - Những chặng đường nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều, tác giả lược dẫn những cách thức và kết quả nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều trước đây thường dừng lại ở những yếu tố, những tìm tòi riêng biệt, lẻ tẻ, từ đó nhấn mạnh tính mục đích “nhằm khám phá cho được hệ thống hình thức mang tính quan niệm của tác phẩm”… Ở năm chương tiếp theo, tác giả đi sâu khai thác các đặc điểm về cơ sở căn rễ văn hóa, về thế giới nghệ thuật Truyện Kiều cách kể chuyện của Nguyễn Du, cái nhìn nghệ thuật về con người, hình tượng tác giả, không gian và thời gian nghệ thuật, về mô hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật hình thức tự sự, mô hình cốt truyện và thể loại, giọng điệu nghệ thuật cảm thương… và chương cuối cùng là Sức sống Truyện Kiều nhằm nhấn mạnh giá trị tự thân của tác phẩm trong tương quan hệ thống thể loại truyện thơ Nôm, khả năng đúc kết các giá trị thẩm mỹ và mở ra những chân trời tiếp nhận Truyện Kiều khác nhau. Điều này thể hiện như một minh chứng rằng, với cùng một tác phẩm, khi nhà nghiên cứu thay đổi điểm nhìn gắn với những lý thuyết mới, phương pháp mới thì bản thân tác phẩm lại tiếp tục tỏa sáng, mở ra những chiều kích tư duy nghệ thuật mới mẻ. Bên cạnh các công trình nghiên cứu từ các phương pháp và điểm nhìn xã hội học, ngôn ngữ học, phong cách học, văn hóa học, so sánh, thể loại, loại hình, tiếp nhận, liên ngành…, phải ghi nhận và khẳng định việc GS. Trần Đình Sử vận dụng lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu Truyện Kiều đã đưa đến những kết quả học thuật thực sự sáng rõ, trở thành bài tập mẫu cho nhiều công trình nghiên cứu văn học Việt Nam theo phương hướng thi pháp học. Đồng hành và tiếp nối với Trần Đình Sử, trong khoảng hai chục năm nay ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, chuyên luận, chuyên khảo bàn về thể loại, thể tài, thể văn, tác giả, tác phẩm đặt rõ vấn đề áp dụng thi pháp hay có kèm thêm thuật ngữ “thi pháp” chẳng hạn Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao 1992; của Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường 1995; Lê Trường Phát, Thi pháp văn học dân gian 2000; Tất Thắng, Về thi pháp kịch 2000; Trần Đình Sử - Nguyễn Thanh Tú, Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan 2001; Nguyễn Huy Hoàng, Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Gogon 2001; Phạm Mạnh Hùng, Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao 2001; Trần Khánh Thành, Thi pháp thơ Huy Cận 2002; Đào Ngọc Chương, Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của E. Hemingwey 2003; Phan Thu Hiền, Thi pháp học cổ điển Ấn Độ 2006..., hoặc có liên quan và giao thoa với một số phương diện căn cốt của thi pháp học chẳng hạn Phạm Thu Yến, Những thế giới nghệ thuật ca dao 1998; Vũ Văn Sĩ, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945 - 1995 1999; Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ trữ tình 2002; Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu 2002; Hồ Thế Hà, Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên 2004 Qua hơn bốn mươi năm gắn bó với công việc giới thiệu lý thuyết thi pháp, GS. Trần Đình Sử đã có những đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển lý luận và nghiên cứu khu vực văn học Việt Nam. Đây là những công trình khoa học thực sự chuyên sâu, không chỉ nhằm miêu tả, minh định các thực thể văn học khác nhau mà tập trung hướng tới giải quyết một vấn đề phức tạp rộng lớn hơn đưa ra cách hình dung “điểm nhìn” bao quát những vấn đề thi pháp chung nhất, liên quan đến tất cả các vấn đề về thời đại, loại hình văn học, thể loại và thể văn khác biệt nhau. Có thể khẳng định GS. Trần Đình Sử đã góp phần đào tạo đội ngũ, nâng cấp mặt bằng nghiên cứu nói chung cũng như tạo lập điểm tựa, định hướng và gợi mở cho nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam và văn học thế giới những năm tiếp theo. Hà Nội, 2000- tháng 3/2013 Nguyễn Hữu Sơn
About Trần Đình Sử Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TỪ GÓC ĐỘ KÍ HIỆU HỌC Trần Đình Sử Do quan niệm văn học phản ánh hiện thực được hiểu giản đơn thô thiển một thời, bản chất kí hiệu của tác phẩm văn học bị che giấu, và như thế , mỗi khi đọc tác … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐỌC THƠ TRỮ TÌNH TỪ GÓC ĐỘ KIẾN TẠO BÀI THƠ Trần Đình Sử Hàng ngày chúng ta vẫn giao lưu với nhau bằng tiếng nóí và chúng ta tự hiểu. Sở dĩ thế là vì chúng ta đã có năng lực sử dụng tiếng nói mà chúng ta giao tiếp. … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – SỰ TOẢ SÁNG CỦA CÁI ĐẸP VÀ LƯƠNG TRI NƠI NGỤC TỐI Vang bóng một thời là tập truyện ngắn được coi là kiệt tác trong văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945, Chữ người tử tù là truyện ngắn xuất sắc nhất của tập truyện. Đọc truyện ngắn … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized VAI TRÒ SÁNG TẠO VĂN HOÁCỦA VĂN HỌC Nói tới văn hoá của một dân tộc không ai là không nghĩ tới văn học, bởi văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hoá. Tuy nhiên trong một thời gian dài do nhu … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized NGUYỄN DỮ VÀ TIÊN THOẠI TRUNG QUỐC QUA TRUYỆN TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN Nghiên cứu văn học so sánh giữa văn học cổ Việt Nam và văn học cổ Trung Quốc đang là một đề tài ngày càng được nhiều người quan tâm, cả trong nước lẫn ngoài nước. Đó là điều hợp … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VINH VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA TÔI Trần Đình Sử Tại sao tôi đi theo nghề văn? Hồi tưởng lại những năm tháng đầu đời, có lẽ đó là một bí ẩn của số phận. Chúng tôi yêu thích văn, nhưng chưa hề có ý thức học … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized HẦU NHƯ TOÀN BỘ LÍ TUYẾT VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM LÀ KẾ THỪA CỦA LÍ THUYẾT MẶT TRẬN CÁNH TẢ VÀ VĂN HỌC VÔ SẢN LIÊN XÔ NHỮNG NĂM 30. CHỈ CẦN ĐỌC MỘT ĐOẠN DƯỚI ĐÂY LÀ RÕ. Trần Đình Sử trích dịch sách Tiến trình văn học trong bối cảnh văn hóa-lịch sử của E. Chernoivanenco, Odessa, Maijak, 1997, tr. 414-418. Năm 1928, nhà phê bình văn học xô viết V. N. Fritsche 1870-1929 đã viết “Chúng … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized GOLDBLATT HOWARD NÓI VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI Trần Đình Sử thuật và bình luận Howard là nhà Hán học nổi tiếng người Mĩ, là người dịch văn học Trung Quốc, đặc biệt ông đã dịch tiểu thuyết Vú to mông lớn của Mạc ngôn, khiến cho tác … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐỌC BÀI THƠ TIẾNG THU CỦA LƯU TRỌNG LƯ Để minh họa việc đọc một bài thơ xuất phát từ văn bản chúng tôi chọn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, bởi vì hiện có những cách hiểu khác nhau, và ngôn ngữ là thử thách hàng đầu để … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized Đọc tự sự Đọc tự sự cũng là đọc văn học nói chung, cần tuân thủ các cách đọc thông dụng. Đã có ba quan niệm về đọc văn học trong truyền thống. Một là đọc để tìm ra ý đồ tư tưởng … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized
Lê Huy Bắc Tên tuổi Giáo sư Trần Đình Sử gắn với công cuộc đổi mới lí luận, phê bình văn học Việt Nam đầu những năm 80. Trong lúc phương pháp nghiên cứu, phê bình xã hội học đã quá quen thuộc và cơ hồ không còn đem lại khả năng khám phá cái mới cho nghiên cứu nữa thì Giáo sư Trần Đình Sử đã mang lại một cách tiếp cận mới, khám phá một phương diện mới của văn học mà lâu nay ít người đề cập tới, đó là thi pháp học. Kể từ thập niên 1980, Giáo sư Trần Đình Sử là nhà phê bình lí luận số một của Việt Nam cho đến nay. Sự nghiệp nghiên cứu giảng dạy của ông được biết đến với hai lĩnh vực, thi pháp học và tự sự học. Nhờ ông mà địa vị khoa Ngữ văn và trường Đại học Sư phạm Hà Nội không ngừng được nâng cao trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Nhờ ông mà đội ngũ các nhà nghiên cứu giảng dạy nhiều thế hệ có được tiếng nói mới trong tiếp cận đối tượng và truyền bá nó cho người đọc, người nghe. Có thể nói, ông là người góp phần quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên một đội ngũ những “người đọc mới”, những người “sáng tác mới” và những “người giảng dạy văn chương mới” trong thời đại mới của nước nhà. Trước đó, nền lí luận ở Việt Nam chủ yếu được đặt trên nguyên lí xã hội học. Đành rằng phê bình xã hội học thì chẳng có gì xấu hay sai trái, những vì quá nhấn mạnh đến các thao tác đối chiếu với cuộc sống theo kiểu Việt Nam nên, hướng đi này dẫn đến những kết luận khiên cưỡng, khiến người đọc đánh mất đi cái hay, cái độc đáo của sáng tạo văn chương vốn là ngôn ngữ đặc thù của trí tưởng tượng tuân theo quy luật của cái đẹp. Làn sóng “phê bình mới” do ông khởi xướng đã nhanh chóng lan rộng trong giới phê bình kinh viện. Tên tuổi Giáo sư Trần Đình Sử xuất hiện trong hàng vạn công trình nghiên cứu từ cấp cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ văn học trên khắp cả nước. Chừng đó đủ để khẳng định tầm quan trọng của thi pháp học đối với giới nghiên cứu và vị trí không thể thiếu của ông đối với nền lí luận nước nhà, chí ít trong suốt ba thập kỉ qua. Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tự hào vì Giáo sư Trần Đình Sử từng đảm nhiệm cương vị chủ nhiệm khoa từ 1990 đến 1995 và chủ nhiệm bộ môn lí luận văn học từ 2000 đến 2004. Giáo sư Trần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 tại Huế, quê gốc Quảng Điền Thừa Thiên – Huế, trong một gia đình trí thức. Ông học ngành Trung văn tại Đại học Sư phạm Hà Nội 1959 – 1961, tốt nghiệp thủ khoa, được giữ lại làm giảng viên tiếng Trung tại trường. Với lợi thế về ngoại ngữ, năm 1962 khi được cử sang học tại Đại học Tổng hợp Nam Khai, Thiên Tân, Trung Quốc, ông theo học ngành ngữ văn. Năm 1966, ông về nước, được phân công công tác tại khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Vinh. Ông dạy ở bộ môn lí luận văn học tại đó suốt mười năm. Những năm tháng này ghi nhận nỗ lực không ngừng của ông trong nghiên cứu và giảng dạy Phong cách cơ bản của thơ Tố Hữu, Đặc trưng hình tượng nghệ thuật trong tính chỉnh thể.. Năm 1976, ông được cử đi Liên Xô cũ làm nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Kiev nay thuộc Ukraina. Tại đây, ông bắt đầu tiếp xúc với trường phái Chủ nghĩa hình thức Nga, đặc biệt là các tác phẩm lí luận phê bình của Mikhail Bakhtin 1895–1975. Lúc này, tên tuổi của nhà phê bình lỗi lạc Nga đã vang dậy toàn cầu. Trần Đình Sử quyết tâm truyền bá tư tường của Bakhtin vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Năm 1980, ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ nay được gọi là tiến sĩ về đề tài Thời gian như là yếu tố của chỉnh thể hình tượng nghệ thuật. Năm 1981, ông về nước, công tác tại khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Bắt đầu từ đây, khái niệm “Thi pháp học” xuất hiện rộng rãi ở Việt Nam với những nội hàm chính “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hình thức mang tính quan niệm” và “Thi pháp học chính là khám phá các giá trị văn hóa của nghệ thuật, chứ không phải đi giải mã nội dung”. Có sự chuyển biến trong nội hàm khái niệm từ nghiên cứu mã thẩm mĩ hình thức của văn chương sang mã văn hóa của văn chương. Nếu ai quan tâm đến khái niệm này thì sẽ thấy sự sáng tạo của riêng Trần Đình Sử. Ông muốn bao quát nhiều vấn đề nghiên cứu văn học trong khái niệm và nỗ lực mở rộng thi pháp học trong phạm vi có thể. Trong khi đó, trên thế giới, chủ yếu người ta tập trung giải mã nội dung của hình thức mà thôi. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, thi pháp học của Bakhtin chỉ được tập trung ở bản chất đối thoại của lời văn. Vậy nên, có thể nói, thi pháp học được dùng trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam là “thi pháp học Trần Đình Sử”. Đây là một đóng góp lớn lao mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng có thể đạt được. Vấn đề ở đây không chỉ là “vận dụng” mà còn là “sáng tạo” cho phù hợp với văn hóa và tiếp nhận bản địa. Thi pháp học nhấn mạnh đến cái tôi sáng tạo của chủ thể. Cái tôi đó được định hướng bởi một “hệ hình tư duy” và nó tác động lên tất cả các cảm quan nghệ thuật về con người, chi phối cách lựa chọn ngôn từ, chi tiết trong việc xây dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của nghệ sĩ… Lý thuyết táo bạo đó được Trần Đình Sử thực hiện trong những công trình đầu tiên là Thời gian nghệ thuật và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” 1981, Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” 1983 và Thi pháp thơ Tố Hữu 1987… Những công trình này đề xuất cái nhìn hoàn toàn mới so với cách các nhà nghiên cứu trước đó khai thác tác phẩm và chúng mở đầu cho nhiều thập kỉ tiếp theo nghiên cứu văn học dưới cái nhìn thi pháp ở Việt Nam. Từ 1987 đến 1989, ông quay lại Liên Xô làm thực tập sinh. Năm 1990, ông được phong Phó giáo sư. Năm 1996, ông được phong Giáo sư. Sự nghiệp nghiên cứu của Giáo sư Trần Đình Sử luôn song hành với giảng dạy. Ông là một trong những giáo viên có thâm niên cao nhất trong đội ngũ các nhà sư phạm ở Việt Nam. Khởi đầu sự nghiệp giáo dục vào năm 1961, Giáo sư Trần Đình Sử có đến 47 năm chính thức đứng trên bục giảng về hưu vào năm 2008, con số này còn kéo dài khi hiện tại ông vẫn tiếp tục giảng cho các đối tượng thạc sĩ và tiến sĩ, đào tạo hàng vạn cử nhân, trên 50 thạc sĩ và 23 tiến sĩ. Nhiều người trong số tiến sĩ này hiện đang giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục và được phong hàm phó giáo sư, hứa hẹn là những nhà khoa học có uy tín trong đội ngũ trí thức tương lai của nước nhà. Nhận thấy những hạn chế nhất định của thi pháp học, sang thế kỉ hai mốt, Giáo sư Trần Đình Sử tập trung nghiên cứu tự sự học. Ông chủ trì hai hội nghị về tự sự học tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội và cho xuất bản hai cuốn sách có giá trị về tự sự học ở Việt Nam. Suốt đời mình, Giáo sư Trần Đình Sử đã viết hơn 200 bài báo, viết chung và riêng trên 100 đầu sách. Trong số đó, những công trình tiêu biểu nhất có thể kể là Thi pháp thơ Tố Hữu 1987, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1998, Thi pháp Truyện Kiều 2002, Dẫn luận thi pháp học 2004… Năm 2004, nhà xuất bản Giáo dục tiến hành làm Tuyển tập Trần Đình Sử 2 tập với số trang gần 2000 trang. Ngoài viết sách nghiên cứu, Giáo sư Trần Đình Sử còn tham gia dịch nhiều tác phẩm nghiên cứu, phê bình từ hai thứ tiếng Nga và Trung. Tiêu biểu Dẫn luận nghiên cứu văn học do G. N. Pospelov chủ biên đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nxb Giáo dục, 1985, Những vấn đề thi pháp Dostoievski của M. Bakhtin đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo dục, 1993, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc của I. N. Lisevich Nxb Giáo dục, 1997, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân Nxb Văn học, 2000… Với những đóng góp trên, năm 1977 Giáo sư Trần Đình Sử được trao tặng Giải thưởng Lí luận Phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Lí luận và phê bình văn học 1976, tiếp đó là giải thưởng Nhà nước năm 2000 cho cụm công trình về thi pháp học. Là nhà giáo mẫu mực, Giáo sư Trần Đình Sử nỗ lực rất nhiều trong cải cách giáo dục. Trước hết là hệ thống sách lí luận được sử dụng rộng rãi trong cả nước. Đó là bộ giáo trình Lí luận văn học đồng chủ biên với Phương Lựu 3 tập, xuất bản lần đầu vào năm 1986. Tiếp đó là bộ Giáo trình lí luận văn học dánh cho hệ cao đẳng, 2 tập, 2003–2004. Chưa dừng lại ở các cấp học cao, Giáo sư Trần Đình Sử còn tham gia chủ biên bộ sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở, lớp 6,7,8,9. Ông phụ trách phần tập làm văn. Tư tưởng được ông đề xuất mang tính cách mạng đối với mảng dạy học này “Dạy văn là dạy cách đọc văn và làm văn”. Tư tưởng này có mối quan hệ rất biện chứng với cách nghiên cứu thi pháp học cung cấp chìa khóa để người học đi vào giải mã văn bản bằng chính cảm nhận và tri thức của chính mình. Đây là lối giáo dục đúng đắn, không chỉ cho việc học văn, mà quan trọng hơn là cho việc hình thành nhân cách con người. Phát huy năng lực tự thân là cách tốt nhất để hình thành nên những con người đúng nghĩa, biết nhận thức đúng sai và tranh đấu cho những mục tiêu tốt đẹp hơn cho sự sống trên thế gian. Tư tưởng này sau đó được Giáo sư Trần Đình Sử quán triệt trong cải cách sách giáo khoa bậc Trung học phổ thông giai đoạn 2002–2008 khi ông được mời làm tổng chủ biên bộ sách Ngữ văn lớp10, 11, 12, về sau bộ sách được phân thành hai cơ bản và nâng cao, nhưng tư tưởng cải cách ban đầu là của Giáo sư Trần Đình Sử. Hành trình cả đời của Giáo sư Trần Đình Sử là sáng tạo không ngừng. Không chỉ dừng lại ở phương diện tư tưởng, ông còn rất thành công ở chỗ chuyển tải, vận dụng những tư tưởng đó vào từng trường hợp cụ thể. Những bài nghiên cứu của ông về Tiếng thu Lưu Trong Lư, Tràng giang Huy Cận… là những áng văn mẫu mực trong tiếp cận tác phẩm. Đây chính là điều mà rất hiếm nhà lí luận nào ở Việt Nam bằng ông. Lối viết văn nghiên cứu của ông đạt đến chuẩn mực cao, là khuôn mẫu cho nhiều thế hệ nghiên cứu gia bắt chước, học hỏi. Đến nay, dù đã nghỉ hưu nhưng Giáo sư Trần Đình Sử vẫn miệt mài đọc, viết và hướng dẫn thạc sĩ, nghiên cứu sinh. Sự nghiệp của ông vẫn vươn dài phía trước mà chưa có dấu hiệu mệt mỏi. Cho dù về sau, “thi pháp học Trần Đình Sử” sẽ nhường chỗ cho các cách nghiên cứu khác, nhưng vị trí mở đầu, tâm huyết của một nhà khoa học, nghị lực và tấm lòng của một nhà giáo từ ông sẽ mãi vững bền trong lòng những con người chân chính yêu văn chương, yêu lẽ phải và mong muốn cuộc sống con người ngày một tốt đẹp hơn.
Khi bộ sách giáo khoa lớp 1 trở thành chủ đề bàn tán nhiều ngày qua, dư luận chú ý tới Hội đồng thẩm định, trong đó Giáo sư Trần Đình Sử là Chủ tịch Hội đồng. Và thật bất ngờ khi vào tài khoản FB mang tên ông, mới ngã ngửa ra là ông Sử lại có nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, thậm chí có thể xếp vào hàng “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Tài khoản FB mang tên Trần Đình Sử đăng tải nhiều nội dung công kích chế độ. Giáo sư phản động Tại sao lại nói vậy? Lật lại lịch sử, Trần Đình Sử là một trong 72 kẻ nhân sĩ trí thức thoái hóa đòi sửa đổi Hiến pháp 1992, trong đó, đòi đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam CSVN, đòi đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, đòi phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang Nhân dân. Trần Đình Sử từng mượn tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hạ bệ chế độ và nền tư pháp của ta ngày nay. Cách đây mấy tháng, Trần Đình Sử còn công khai ủng hộ các đối tượng trong “tổ Đồng Thuận” và các luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa. Nếu thực sự tài khoản FB nói trên là của Giáo sư Trần Đình Sử, thành viên Hội đồng thẩm định bộ sách Giáo khoa lớp 1 đang gây tranh cãi trong những ngày vừa qua thì thật sự đáng lo ngại. Một giáo sư đầu ngành về giáo dục, viết sách, thẩm định sách cho cả một thế hệ mà có suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực như vậy, thử hỏi, chất lượng các sản phẩm của ông ta đến đâu, liệu có xứng đáng với hai chữ GIÁO SƯ hay không? Ông ta mở miệng là chửi bới Đảng, Nhà nước, nhưng lại quên rằng, mình được ăn học tử tế, trưởng thành từ đâu, ngoài mái trường Xã hội chủ nghĩa. Ăn cơm dân, mặc áo Đảng, được trọng dụng, phong danh hiệu Giáo sư, đâu phải để ông ta quay đầu chửi bới, đả kích trên mạng được chứ. Nếu muốn chống phá, thì hãy từ bỏ học hàm Giáo sư, từ bỏ ngành giáo, rồi hãy làm những gì ông muốn. Thêm một mang bài đăng mang tính công kích của tài khoản FB Trần Đình Sử. Giáo dục hay bất kỳ ngành nào cũng phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thế thì mới có được định hướng đúng, có thế thì mới không mơ hồ và bát nháo. Ông là Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách Giáo khoa, hàm giáo sư mà tư duy, nhận thức ấu trĩ như thế, thảo nào mà sách Giáo khoa hiện nay chẳng khác nào mớ rau tập tàng, lẩu thập cẩm. Mấy năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện nhiều Phó Giáo sư, Tiến sỹ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thường xuyên viết các bài viết có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước như trường hợp PGS Đỗ Ngọc Thống Vụ Giáo dục Trung học, PGS Nguyễn Hoàng Ánh Đại học Ngoại thương, Giáo sư Ngô Bảo Châu… Đây là những hạt sạn cần loại bỏ, không để làm vấy bẩn ngành giáo dục, hủy hoại thế hệ trẻ của đất nước. Sẽ ra sao nếu những người ngày ngày đứng trên giảng đường, giáo dục thế hệ trẻ lại mang trong đầu tư tưởng phản động, chống phá. “Giặc” ở ngay sau lưng “Giặc ở sau lưng” hay “nỏ thần đã trao tay giặc” rồi? Ngẫm câu chuyện xưa mà sao giá trị nó trường tồn đến thế. Vẫn biết rằng vẫn có những thế lực luôn tìm cách cài tay chân vào làm nội gián đánh phá từ bên trong ra nhằm hạ uy tín thể chế, chế độ đấy nhưng nó có thực hiện được ý đồ hay không lại là do chính thái độ và hành động chủ quan. Như trường hợp bộ sách giáo khoa đang gây bức xúc dư luận cũng chẳng khác câu chuyện nỏ thần là mấy. Việc có hay không ý đồ núp danh cải cách giáo dục và xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa để phá hoại nền giáo dục thì còn phải chứng minh, nhưng để một tên chống Đảng, chửi chế độ như hát hay cầm trịch cả một Hội đồng thẩm định sách giáo khoa thì lại trúng ý đồ của chúng nó quá. Với vai trò thẩm định, chúng có thể yêu cầu các tác giả, nhà biên soạn điều chỉnh nội dung theo ý đồ nhằm đạt được mục đích phá hoại, từ những bộ sách có nội dung tốt có thể trở thành những bộ sách có nội dung xấu, không phù hợp thậm chí là dung tục; chúng có thể cố tình để lọt những bộ sách được soạn với mục đích gây khó cho hoạt động dạy và học cũng như gây phản ứng tiêu cực trong xã hội, làm nhiễu loạn dư luận, làm băng hoại niềm tin của quần chúng vào vai trò quản lý xã hội của Nhà nước… Ấy chính là chúng đã thực hiện được mưu đồ phá hoại. Có rất nhiều bài đăng chứa nội dung xuyên tạc. Sách giáo khoa là công cụ giáo dục và xây dựng nền tảng tri thức cho các thế hệ công dân là chủ tương lai của đất nước, nếu ví nó như cây nỏ thần hộ quốc thì việc giao cho những kẻ có tư tưởng phản loạn giữ vai trò thẩm định thì chẳng khác nào nỏ thần trao tay giặc. Là vô tình do kém hiểu biết hay cố ý làm loạn thì cũng đều phải làm cho rõ và xử cho nghiêm mới mong yên bề trị quốc. Mong rằng các cơ quan chức năng cần có biện pháp xử lý mạnh tay, không thể để những người mầm họa cho đất nước ở trong ngành giáo dục như vậy. Lê Dung Anh *Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả
DIỄN TỪ NHẬN GIẢIGIẢI VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH 2017Giáo sư Trần Đình SửGiải Nghiên cứu Kính thưa… Hôm nay, tôi vô cùng xúc động và vinh dự được nhận Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh ở hạng mục nghiên cứu của của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh vì những đóng góp to lớn và lâu dài trong lĩnh vực văn học. Sự kiện này thể hiện sự gặp gỡ tri âm giữa các hoạt động nghiên cứu của tôi với phương hướng bồi bổ dân trí, chấn hưng dân khí theo gương nhà chí sĩ lỗi lạc của dân tộc Phan Châu Trinh, mà các nhà lãnh đạo Quỹ chủ trương. Nhân dịp này tôi xin phép bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với quý vị trong Hội đồng khoa học của Quỹ, những người đã hào hiệp dành cho tôi vinh dự to lớn này. Kính thưa quý vị, Nhân đây, cho phép tôi được chia sẻ đôi điều về hoạt động nghiên cứu của mình. Tôi là một giảng viên đại học, bắt đầu giảng dạy bộ môn lí luận văn học ở đại học sư phạm từ giữa những năm sáu mươi thế kỉ trước. Trong khi dạy, tôi dần dần nhận thấy tính chất công thức, sơ lược của lí thuyết theo quan điểm mĩ học Mác – Lênin thời ấy, chủ yếu dạy về quan điểm triết học và chính trị, không giúp nhiều cho người học thấy được đặc trưng, sự phong phú, vẻ đẹp cũng như giá trị văn hoá của sáng tác văn học. Nhờ tự học tiếng Nga và đọc các sách báo Nga hồi ấy, tôi thấy giới trí thức Liên xô vào thời “tan băng” đã có một bộ phận đi tìm những con đường tiếp cận mới, trong đó có thi pháp học. Các sách về phương diện này trước đó bị ngăn cấm, lúc bấy giờ đã lần lượt được in lại. Trên các tạp chí khoa học luôn có mục thi pháp, đăng tải các lí thuyết và tìm tòi mới. Do nghiên cứu lí thuyết bị cầm đoán, các nhà khoa học Nga đi vào nghiên cứu, phân tích tác phẩm, theo hướng thi pháp văn học với các tên tuổi lớn như M. Bakhtin, D. Li khachev, V. Shklovski, V. Girmunski…, cùng các nhà nghiên cứu trẻ ở Viện văn học thế giới như G. Gachev và các tác giả khác. Thi pháp học nhấn mạnh đến nguyên tắc sáng tạo văn học lạ hoá và hư cấu, tạo ra một chỉnh thể có tính kí hiệu. Nó nghiên cứu thi pháp như hệ thống các phương thức, phương tiện tạo nên tác phẩm nghệ thuật, khẳng định tính quan niệm, tính chủ thể của sáng tác, nhận rõ sự khác biệt giữa hình tượng nghệ thuật với các hình ảnh sao chép giản đơn từ thực tế, từ đó chỉ ra nội dung, tính sáng tạo và cá tính của nghệ sĩ. Như thế thi pháp học góp phần khắc phục quan niệm phản ánh giản đơn và xã hội học dung tục, xác nhận tính chủ thể của nhà văn. Và nhờ thế, thi pháp học được đón nhận rộng rãi. Nhưng thi pháp hoàn toàn không phải là lĩnh vực của hình thức văn học thuần tuý như một số người nghĩ, mà nó còn là lĩnh vực của văn hoá văn học, của hình thức tư duy thẩm mĩ, một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nghiên cứu thi pháp chính là nghiên cứu văn hoá sáng tạo của văn học. Chỉ đến một giai đoạn nào đó của sự phát triển thì mới xuất hiện các hình thức nghệ thuật nào đó. Thi pháp học là một hướng nghiên cứu mở, nó có thể dung nạp nhiều cách tiếp cận khác nhau như chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học, phân tâm học, kí hiệu học, nữ quyền luận, diễn ngôn học, xã hội học…Do đó mở rộng nghiên cứu các lí thuyết đó thì nghiên cứu thi pháp càng có thêm hiệu quả. Sau năm 90, song song với quá trình hội nhập, chúng ta tiếp thu thêm nhiều lí thuyết của phương Tây, việc ứng dụng thi pháp học đã đi vào chiều sâu. Nhiều công trình có thể không nêu tên thi pháp song thi pháp với tư cách là hệ thao tác nghiên cứu vẫn không bao giờ vắng mặt. Nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam không tránh khỏi phải đối mặt với những định kiến lâu đời. Nào là “chủ nghĩa hình thức”, nào là “sùng ngoại”, nào là “xa rời bản sắc dân tộc” vân vân. Nhưng chúng tôi đề cao tính quan niệm của sáng tác, cho nên khó bề quy kết là chủ nghĩa hình thức, còn sùng ngoại ngày nay, trong ý nghĩa đúng đắn, chính là sùng tiến bộ, sùng văn minh, sùng khoa học, cũng không thể bác bỏ. Chúng tôi lại dùng lí thuyết hiện đại để nghiên cứu văn học, văn hoá nước nhà, không thể nói là xa rời thực tiễn văn học Việt Nam được. Vì thế thi pháp học là hướng nghiên cứu không thể bị phủ định. Bên cạnh dạy học lí luận văn học ở đại học, chúng tôi còn biên soạn chương trình và sách giáo khoa môn ngữ văn trung học phổ thông, trong đó chủ yếu là làm văn và đọc hiểu văn học. Chúng tôi nhận thấy cần thay đổi lối giảng văn cũ kĩ chủ yếu là dạy đọc chép. Trong đọc văn, chúng tôi khắc phục cách hiểu môn văn hẹp hòi chỉ là đọc các áng văn, thơ. Chúng tôi đề xuất cách hiểu văn nghĩa rộng, ngoài văn thơ là chính, học sinh còn đọc các văn bản có tính chất văn hiến, như cáo, chiếu, biểu, hịch, văn tế, các trích đoạn lịch sử, bình sử, các văn bản truyền bá khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, văn bản báo chí. Bằng cách đó học sinh biết tiếp cận với các loại văn bản có nội hàm văn hoá của dân tộc để sau khi tốt nghiệp học sinh không xa lạ với văn hoá nước nhà và khoa học hiện đại. Chỉ tiếc là bộ môn giáo học pháp trong nhà trường còn quá cũ kĩ, chưa đáp ứng tư tưởng mới và chương trình con nặng nề. Để khắc phục sự cũ kĩ này, chúng tôi đã giới thiệu những cách tiếp cận mới như đọc hiểu văn học, các hình thức làm văn mới như biểu cảm, văn thuyết minh, nguyên tắc dạy học mới trên cơ sở lây học sinh làm trung tâm, phát triển cá tính của học sinh. Theo chúng tôi, dạy học văn học trong nhà trường không thể xa rời với văn hoá đọc. Trong đời sống văn học hôm nay, chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn, lí luận văn học chính thống một thời ở Việt Nam bị chính trị hoá, ít tính chất học thuật. Sự đổi mới lí thuyết văn học thực ra chỉ mới bắt đầu. Hành trình này con gian nan, thể hiện ở chỗ các giáo trình lí luận văn học ở bậc đại học hiện nay, mặc dù được chúng tôi bổ sung, sửa sang từ giữa những năm 80, đưa vào nhiều nội dung mới, song hình hài lí luận Liên Xô ngày trước vẫn con nguyên. Phải có một sự thay đổi căn bản nữa thì mới có được một chương trình lí luận văn học bậc đại học thực sự khoa học, hiện đại, hấp thu được các tinh hoa lí thuyết của nhân loại ngày nay, và đào tạo các thế hệ sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ bắt kịp trình độ của các nước tiên tiến. Đó là một công việc rất khó khăn, đòi hỏi không chi rất nhiều tri thức chuyên môn hiện đại, mà còn đói hỏi hiểu biết văn hoá rộng. Chính vì thế mà chúng tôi ngày càng tìm hiểu thêm nhiều lĩnh vực tri thức mà ngày trước và cho đến nay vẫn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam, như lí thuyết tiếp nhận, diễn ngôn, kí hiệu học, hiện tượng luận,.. Dĩ nhiên là sự nghiệp này còn để ngỏ dành cho thế hệ trẻ. Kính thưa quý vị. Trên đây là mấy điều chia sẻ về hoạt động nghiên cứu của chúng tôi với tư cách là một giảng viên, một nhà nghiên cứu văn học và văn hoá. Chúng tôi vui mừng vì hoạt động ấy đã có sức lan toả và đã được các vị trong Hội đồng khoa học của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh biết đến và tỏ lòng khích lệ. Sự quan tâm của Quỹ là một sự động viên mạnh mẽ. Chúng tôi một lần nữa bày tỏ lòng tri ân, cảm tạ đối với Hội đồng khoa học của gỉải, của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh đã đem đến cho tôi niềm vinh dự, coi đây như là khích lệ chung cho tất cả những ai góp phần đổi mới lí thuyết văn học và dạy học ngữ văn của nước nhà. Xin đa tạ quý vị.
giáo sư trần đình sử