Sự phát triển về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp Việt Nam góp phần quyết định vào việc thực hiện mục tiêu đưa nước ta đến năm 2025 trở thành nước đang phát triển, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp và thực hiện các mục tiêu tiếp theo đến năm SLP Việt Nam. hạ tầng logistics. Đánh giá của bạn: Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức. Bạn đang đọc bài viết Sự khác biệt của SLP tại chuyên mục Doanh nghiệp của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin 1. Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2021. Quy mô thị trường TPDN ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quy mô dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Cụ thể, tính đến hết quý 2/2021, dư nợ TPDN chiếm khoảng 11% tổng dư nợ cả nền kinh tế Thực trạng quản trị nguồn nhân lực số trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay . Chuyển đổi số là tất yếu với sự phát triển của doanh nghiệp. Xu hướng ứng dụng công nghệ số ngày càng lan tỏa trong các quy trình hoạt động của doanh nghiệp. Đối với bộ phận nhân sự Hiện tại, ngành may mặc Việt Nam không thiếu khách hàng; tuy nhiên, muốn biến cơ hội thành của cải, các doanh nghiệp Việt phải phát triển theo xu hướng xanh - bền vững. Cụ thể hơn, sau khi 'số hóa' chúng ta cần phải 'xanh hóa' và nên tự mình làm các chứng chỉ […] Các dự án blockchain được phát triển tại Việt Nam gây được tiếng vang trên thị trường thế giới, tạo ra nhiều nền tảng, giải pháp công nghệ blockchain hữu ích, thu hút nhiều nhà đầu tư. 200 doanh nghiệp Top đầu thế giới về blockchain thì có hơn 10 là doanh nghiệp Việt Nam. W0FL. News Release 28 Tháng 4 2021 Read time 5 mins HÀ NỘI, VIỆT NAM 28 tháng 4 năm 2021 — Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự báo sẽ phục hồi ở mức 6,7% trong năm nay bất chấp sự bùng phát trở lại của đại dịch COVID-19 ở các quốc gia lân cận, và tăng lên 7,0% trong năm 2022, theo một báo cáo mới đây của Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB. “Tiêu dùng nội địa trì trệ và sức cầu bên ngoài yếu do đại dịch COVID-19 làm giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong năm ngoái, nhưng đà tăng trưởng vẫn tiếp tục mạnh trong năm nay và năm sau, nhờ thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát sự lây lan của virus,” Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Andrew Jeffries phát biểu. “Nhưng năm nay và năm sau vẫn còn nhiều rủi ro đáng kể, trong đó có sự trở lại của các biến thể virus corona mới và sự chậm trễ trong chương trình vắc-xin của chính phủ.” Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á ADO 2021 nhận định rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được thúc đẩy bởi ngành công nghiệp chế biến chế tạo định hướng xuất khẩu, tăng đầu tư và mở rộng thương mại. Đà tăng trưởng được dự báo sẽ tiếp tục, nhờ các chương trình cải cách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và sự tham gia của Việt Nam vào nhiều hiệp định thương mại tự do với hầu hết các nền kinh tế phát triển. Giá dầu thế giới và tiêu dùng nội địa cùng gia tăng, dự kiến sẽ đẩy tỉ lệ lạm phát lên 3,8% trong năm nay và 4,0% trong năm 2022. Sự phục hồi nhanh hơn so với dự kiến ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Mỹ sẽ cải thiện đáng kể triển vọng thương mại và tăng trưởng của Việt Nam, báo cáo nhận định. Tuy nhiên, tốc độ triển khai chương trình tiêm chủng COVID-19 không đồng đều trên toàn cầu có thể trì hoãn việc Việt Nam trở lại với mức tăng trưởng mạnh mẽ trước đại dịch, do nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế. Đầu tư tư nhân trong nước phục hồi nhanh chóng có thể làm trầm trọng thêm nguy cơ bong bóng tài sản, nếu như tín dụng không được dẫn hướng vào các lĩnh vực sản xuất. Báo cáo còn nhận định rằng Việt Nam có thể duy trì tăng trưởng bao trùm bằng cách làm dịu đi tác động của đại dịch đối với nghèo đói và thu nhập. Báo cáo kêu gọi chính phủ áp dụng một chiến lược bền vững, dài hạn để giúp đỡ cho sinh kế của người nghèo và người dễ bị tổn thương thông qua những biện pháp như đào tạo nghề và cải thiện tiếp cận với tín dụng vi mô cho các doanh nghiệp mới. ADB cam kết đạt tới một khu vực châu Á và Thái Bình Dương thịnh vượng, đồng đều, thích ứng và bền vững, trong khi duy trì nỗ lực xoá đói nghèo cùng cực. Được thành lập năm 1966, ADB thuộc sở hữu của 68 thành viên, trong đó có 49 thành viên trong khu vực. Media Contact Related Các doanh nghiệp việt nam là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều về chủ đề các doanh nghiệp việt nam. Trong bài viết này, sẽ viết bài viết Tổng hợp các doanh nghiệp việt nam sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế nước đoàn nghiệp Cổ phần Đầu tư Thế Giới Di nghiệp Cổ phần Vàng bạc Đá quý & Đầu tư dịch vụ thương mại nghiệp ôtô Trường Hải THACO ty cổ phần tập đoàn Hòa đoàn lớn Điện lực Việt đoàn lớn Dầu khí Việt ty Cổ phần Sữa Việt nghiệp Cổ phần Hàng không hàng TMCP Việt Nam Thịnh đoàn VingroupTrên tinh thần phát triển bền vững và chuyên nghiệp, Vingroup đã tập trung phát triển hệ sinh thái gồm 6 lĩnh vực cốt lõi Bất Động Sản Vinhomes; Vincom Office; bán nhỏ lẻ Vincom, VinMart, VinFashion VinDS, VinPro; Du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí Vinpearl và Vinpearl Land; Y tế với thương hiệu Vinmec; Giáo dục với tên thương hiệu Vinschool và Nông nghiệp với Brand Name chuyên môn BĐS, Vingroup là một trong những nhà phát triển tiên quyết với những công trình kiểu mẫu Vinhomes Riverside, Royal City, Times City… Vingroup và những khu đô thị do Vingroup phát triển liên tục giành được những giải thưởng Bất Động Sản quốc tế danh giá như “Chủ đầu tư tốt nhất – Best Developer”; “Dự án biệt thự tốt nhất – Best Villa Development”; “Dự án căn hộ tốt nhất – Best Condo Development”; “Dự án phức hợp được nhận xét cao – Best mixed-use Development”,…Bên cạnh việc kiến tạo những công trình mang dấu ấn thời đại, Vingroup còn là thành tố đem đến sự thay đổi tư tưởng và làm ra tiêu chuẩn sống mới cho người tin chi tiếtĐịa chỉ Số 7 Đường Bằng Lăng 1, Phường Việt Hưng, Quận Long Biên, Hà NộiHotline +84 24 3974 9999Facebook đoàn lớn nghiệp Cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Độngdoanh nghiệp Cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Động MWG là cửa hàng bán lẻ số 1 Việt Nam về thu nhập do việc kinh doanh đưa lại và tiền lãi, với mạng lưới hơn 2200 shop hàng trên toàn quốc. MWG vận hành những chuỗi kinh doanh nhỏ lẻ Điện Máy Xanh, Bách Hoá Xanh. ngoài ra, MWG còn mở rộng ra thương trường nước ngoài với chuỗi kinh doanh nhỏ lẻ thiết bị di động Bigphone tại tập trung xây dựng dịch vụ khách hàng khác biệt với chất lượng vượt trội, thực sự phù hợp với văn hoá đặt quý khách hàng thực hiện trung tâm trong mọi suy nghĩ và hành động của doanh nghiệp. MWG liên tục cải thiện mang đến cho người tiêu dùng kinh nghiệm thú vị và hài lòng nhất dựa trên nền tảng văn hóa đặt khách hàng thực hiện trọng tâm và Integrity. MWG mang đến cuộc sống sung túc cho nhân viên, lời so với vốn cao cho nhà đầu tư nhiều thời gian và đóng góp phúc lợi cho cộng trị cốt lõi của nhân viêntận tâm với người tiêu dùnglàm đúng khẳng định và nhận trách nhiệmYêu thương và hỗ trợ đồng độiTrung trực về tiền bạc và các sự liên quanMáu lửa trong công việcThông tin chi tiếtĐịa chỉ Lô đường D1, Khu Công Nghệ Cao, Phường Tân Phú, quận 9, 028 3812 5960E-mail investor ty Cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Độngdoanh nghiệp Cổ phần Đầu tư Thế Giới Di nghiệp Cổ phần Vàng bạc Đá quý & Đầu tư dịch vụ thương mại DOJItập đoàn lớn DOJI đã tạo một dấu ấn mạnh mẽ trong xã hội doanh nghiệp Việt Nam nói chung và trong chuyên môn Vàng bạc Đá quý nói riêng với tốc độ tăng trưởng thu nhập do việc kinh doanh đưa lại ấn tượng và giá trị thương hiệu ngày càng lớn mạnh. Chiếm lĩnh thị trường nội địa với hệ thống kinh doanh Vàng miếng, phân phối Kim cương và Trang sức cao cấp khắp ba miền Bắc – Trung – Nam, tên thương hiệu DOJI đang bước đi vững chãi trong lộ trình chinh phục khách hàng bằng uy tín và chất lượng sản chú trọng đầu tư thiết bị, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại, phương án marketing bài bản, tập đoàn lớn DOJI thể hiện nhiều lợi thế cạnh tranh so với các hàng hóa cùng phân khúc và khẳng định vị thế tiên phong trong lĩnh vực bản lề là Vàng bạc Đá quý và Trang sức. Với tầm nhìn chiến lược, ý kiến phát triển bền vững, tiềm lực hùng mạnh, tập đoàn DOJI cam kết đẳng cấp và sang trọng Brand Name quốc gia Việt Nam, sẵn sàng tâm thế hội nhập và vươn xa trong khu vực cũng như quốc tế trong tương tin chi tiếtTrụ sở chính Tòa nhà DOJI Tower, 5 Lê Duẩn, Ba Đình, Hà NộiHotline +84 24 3366 2288Website nghiệp Cổ phần Vàng bạc Đá quý & Đầu tư dịch vụ thương mại nghiệp ôtô Trường Hải THACOSau nhiều năm ra đời và phát triển, THACO đã trở thành tập đoàn lớn công nghiệp đa nghề, trong đó Cơ khí và Ô tô là chủ lực, đồng thời phát triển các chuyên môn sản xuất giao thương bổ trợ cho nhau, làm ra giá trị cộng hưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh, bao gồm Nông nghiệp; Đầu tư xây dựng; Logistics và thương Mại & Dịch là công ty bậc nhất và có quy mô lớn nhất tại Việt Nam về lĩnh vực sản xuất lắp ráp ô tô, với chuỗi giá trị từ nghiên cứu phát triển hàng hóa R&D, sản xuất linh kiện món phụ, lắp ráp ô tô, đến giao nhận vận chuyển và phân phối, bán nhỏ lẻ. sản phẩm có đủ đầy những chủng loại xe tải, xe bus, xe du lịch, xe chuyên dụng và đủ đầy phân khúc từ trung cấp đến tầm cao cấp với doanh số và thị phần luôn dẫn đầu thị trường Việt Nam trong nhiều năm cạnh hoạt động sản xuất buôn bán, THACO còn xây dựng môi trường văn hóa công ty lành mạnh, định hình được bản sắc văn hóa riêng của THACO dựa trên triết lý kinh doanh “Mang lại giá trị cho người tiêu dùng, xã hội và có đóng góp thiết thực vào nền kinh tế đất nước” và nguyên tắc “8 chữ T tận tụy – Trung Thực – Trí Tuệ – tự tin – Tôn Trọng – Trung Tín – Tận Tình – Thuận Tiện”. Đây chính là đáng giá cốt lõi của văn hóa THACO, là tài sản vô hình để làm ra động lực khuyến khích sự phát tin chi tiếtTrụ sở chính Tầng 18 Tòa nhà Sofic, số 10 đường Mai Chí Thọ, Thiêm, quận 2, Tp. Hồ Chí MinhHotline +84-0 rep-office nghiệp ôtô Trường Hải THACOcông ty ôtô Trường Hải THACO ty cổ phần tập đoàn Hòa PhátHòa Phát được biết đến không chỉ là một tập đoàn lớn kinh tế tư nhân đa nghành với thu nhập do việc kinh doanh đưa lại hàng trăm triệu đô la năm, mà Hòa Phát còn được nhận định cao bởi sự mạnh dạn trong đầu tư sản xuất, xây dựng và phát triển những mặt hàng mới toanh. 1 trong các điểm mạnh và cũng là thành tố quan trọng mang lại sự thành công cho tập đoàn lớn Hòa Phát ngày hôm nay là kinh nghiệm điều hành và sự đoàn kết của ban lãnh đạo tập đoàn cũng như tất cả công ty thành viên trong tập đoàn lớn. Từ doanh nghiệp trước tiên mang tên thương hiệu Hòa Phát ra đời là doanh nghiệp Thiết bị phụ tùng Hòa Phát cho đến những doanh nghiệp được hình thành sau này, quá trình thành lập và hoạt động và phát triển của tập đoàn lớn Hòa Phát luôn gắn liền với các cổ đông thành lập của Hòa đoàn Hòa Phát hoạt động chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực Sắt thép xây dựng, ống thép và tôn mạ; các công việc điện lạnh, nội thất, máy móc thiết bị; BĐS Nhà Đất, gồm Bất Động Sản Nhà Đất Khu công nghiệp, Bất Động Sản Nhà Đất nhà ở; chuyên môn nông nghiệp gồm sản xuất đồ ăn chăn nuôi và chăn nuôi. Đến lúc hiện tại, sản xuất sắt thép là chuyên môn sản xuất cốt lõi chiếm tỷ trọng trên 80% thu nhập do việc kinh doanh đưa lại và lời so với vốn toàn tập đoàn tin chi tiếtTrụ sở chính 66 Nguyễn Du, Du, Bà Trưng, Hà NộiHotline 48 666Website nghiệp cổ phần tập đoàn lớn Hòa đoàn lớn Điện lực Việt Namtập đoàn lớn Điện lực Việt Nam được thành lập với sứ mệnh chắc chắn cung cấp kịp thời và đủ sản lượng điện theo ý muốn của Hệ thống điện quốc gia với chất lượng điện năng và độ ổn định cao; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của công ty nhằm đạt được mục đích An toàn – Hiệu quả – Chất lượng – Liên tục là tôn chỉ hoạt động của tập đoàn lớn Điện lực Việt nghề buôn bán chínhSản xuất, truyền tải, phân phối và giao thương mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia;Xuất nhập khẩu điện năng;Đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện;Quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, tinh chỉnh, auto thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm vấn quản lý dự án, tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, lập dự toán, tư vấn thẩm tra và giám sát thi công công trình nguồn điện, các công trình đường dây và trạm biến tin chi tiếtTrụ sở chính Số 11 Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà – đoàn lớn Điện lực Việt Namtập đoàn Điện lực Việt đoàn lớn Dầu khí Việt Namtập đoàn Dầu khí Việt Nam là một trong trụ cột kinh tế của đất nước, thực hiện vai trò là công cụ điều tiết kinh tế mô hình lớn của Chính phủ, đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước. tập đoàn có đội nhóm lao động hùng hậu với số lượng gần người, có trình độ cao, làm người quản lý các hoạt động dầu khí ở trong nước và ngoài xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí đến phát triển công nghiệp khí – điện – chế biến và dịch vụ dầu khí, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng đất nước .Là tập đoàn lớn tiên phong trong hợp tác, hội nhập quốc tế và mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Đến nay tập đoàn đang triển khai làm hoạt động dầu khí tại 14 nước trên thế đơn vị nòng cốt, chủ lực của công việc Dầu khí; là trụ cột, đầu tàu dẫn dắt những chuyên môn kinh tế khác phát triển; đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ tin chi tiếtTrụ sở chính Số 18 Láng Hạ, Ba Đình, Hà NộiHotline 84-4 3825 2526Website đoàn lớn Dầu khí Việt Namtập đoàn lớn Dầu khí Việt ty Cổ phần Sữa Việt NamSau nhiều năm phát triển, Vinamilk đã tạo lập được một thương hiệu rất uy tín và được quý khách hàng trong và ngoài nước đặt niềm tin. Hiện Vinamilk có hơn 250 sản phẩm với các ngành nghề hàng chính sữa nước; sữa chua; sữa bột và bột dinh dưỡng; sữa đặc có đường; kem, phô mai; sữa đậu nành; nước trái cây và nước giải khát. Chiến lược phát triển bền vững, để mắt đến phát triển nguồn nguyên liệu chất lượng hàng hóa được Vinamilk rất chú luôn thỏa mãn và có trách nhiệm với quý khách hàng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm với giá cả cạnh tranh, tôn trọng đạo đức giao thương và tuân theo luật định. Đặc biệt, Vinamilk đặt ra mục tiêu tiếp tục duy trì vị trí số một trên thị trường sữa Việt Nam, cung ứng tốt nhất những yêu cầu của người tiêu dùng thông qua việc đa dạng và đơn giản hóa danh mục sản phẩm và dịch vụ, củng cố và gia tăng thị phần của tất cả các nghề tin chi tiếtTrụ sở chính Số 10, Đường Tân Trào, phường Tân Phú, Q7, Tp. HCMHotline 028 54 155 555Email vinamilk nghiệp Cổ phần Sữa Việt Namdoanh nghiệp Cổ phần Sữa Việt nghiệp Cổ phần Hàng không VietJetVietjet là hãng hàng không thứ nhất tại Việt Nam vận hành theo mô hình hàng không thế hệ mới, chi phí tiết kiệm, linh hoạt và cung cấp đa dạng những dịch vụ cho người tiêu dùng lựa mệnhKhai thác và phát triển mạng đường bay rộng khắp trong nước, khu vực và quốc tếMang đến sự đột phá trong dịch vụ hàng khôngthực hiện cho dịch vụ hàng không thành ra phương tiện di chuyển nhiều người biết đến ở Việt Nam và quốc tếMang lại niềm vui, sự hài lòng cho quý khách hàng bằng dịch vụ vượt trội, đẳng cấp và những nụ cười thân hàng không thế hệ mới đang khai thác 129 đường bay tới khắp các điểm đến trong nước và quốc tế tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Singapore, Malaysia, Myanmar, Campuchia, Thái Lan, Đài Loan Trung Quốc…Bên cạnh những giải thưởng và ghi nhận của thương trường trong và ngoài nước, Vietjet cũng nhận được cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ vì các đóng góp xuất chúng cho sự phát triển của công việc hàng không Việt tin chi tiếtTrụ sở chính 302/3 Phố Kim Mã, Phường Ngọc Khánh, Quận Ba Đình, Thành phố Hà NộiHotline 84-28 3547 1866Website ty Cổ phần Hàng không VietJetdoanh nghiệp Cổ phần Hàng không hàng TMCP Việt Nam Thịnh VượngLà 1 trong những ngân hàng TMCP sáng lập sớm nhất tại Việt Nam, VPBank đã có những bước phát triển vững chắc trong suốt lịch sử của ngân hàng. Sự tăng trưởng vượt bậc của VPBank thể hiện sinh động ở mức độ mở rộng mạng lưới những chi nhánh, điểm thanh toán giao dịch trên toàn quốc cùng với sự phát triển đa dạng của những kênh kinh doanh và phân cạnh đó, theo định hướng “Khách hàng là trọng tâm”, những điểm thanh toán giao dịch đã được thay đổi hoàn toàn về diện mạo, mô hình và tiện nghi phục vụ. những hàng hóa, dịch vụ của VPBank luôn được cải tiến và kết hợp thêm nhiều tác dụng nhằm gia tăng quyền lợi cho khách hàng… Tất cả đã góp phần thực hiện hài lòng người tiêu dùng hiện tại và thu hút thêm quý khách hàng mới, mở rộng tập khách hàng của VPBank cả về độ lớn và thời gian gắn bó với tốc độ nhanh hàng luôn đi đầu thương trường trong việc ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong những hàng hóa, dịch vụ và hệ thống vận hành. cùng theo với việc xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, hiệu quả, các hệ thống quản trị nhân sự cốt lõi đã được xây dựng và triển khai thành đạt tại VPBank. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã từng bước phát triển một hệ thống quản trị rủi ro độc lập, tập trung và chuyên môn hóa, cung ứng chuẩn mực quốc tế và gắn kết với chiến lược buôn bán của Ngân hàngThông tin chi tiếtTrụ sở chính 89 Láng Hạ, Q Đống Đa, Hà NộiHotline hàng TMCP Việt Nam Thịnh VượngNgân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượngcác tập đoàn, doanh nghiệp lớn mạnh đang góp phần giúp cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, phong phú và phát triển trên nhiều chuyên môn. Vươn xa lên tầm quốc tế và thu hút nhiều chủ đầu tư nước ngoài đến Việt Nam hơn Trước yêu cầu phát triển mới, hơn lúc nào hết, đội ngũ doanh nhân cần tiếp tục phát huy vai trò, khẳng định vị thế, góp phần hiện thực hóa khát vọng vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Có nhiều đóng góp cho nền kinh tế Đội ngũ doanh nhân được xem là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế. Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, cùng nhiều chính sách hỗ trợ, tạo động lực đã được ban hành và thực thi, đến nay đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên nhiều phương diện. Nhiều doanh nhân đã làm rạng rỡ trí tuệ, nghĩa khí, tài năng Việt Nam khi tên tuổi đã vượt ra ngoài đất nước, xếp hạng cùng những doanh nhân lớn trên thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển không ngừng về số lượng. Tính đến nay, Việt Nam đang có khoảng gần 7 triệu doanh nhân, 860 nghìn doanh nghiệp. Khu vực này cũng đóng góp hơn 60% GDP, 70% nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo ra việc làm cho 14,7 triệu lao động, chiếm gần 28% lực lượng lao động của toàn xã hội. Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương. Theo đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc Bộ Chính trị khóa XI ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW cho thấy Đảng ta đã có sự nhìn nhận, đánh giá cao vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân trong tình hình mới. Đến nay, rất nhiều doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã tạo đột phá trong quản trị doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh để hình thành những tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh với những dự án đầy tham vọng, mang tầm vóc quốc tế, tiên phong trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như sản xuất ô-tô, hàng không, công nghệ thông tin,... Bên cạnh đó, đội ngũ doanh nhân còn tạo công ăn việc làm, cũng như an sinh xã hội, phục vụ công tác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí Trần Tuấn Anh chỉ ra nhiều hạn chế của cộng đồng doanh nhân cần sớm khắc phục như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp vẫn ở mức trung bình so thế giới, chưa đạt mục tiêu lọt vào nhóm 3, nhóm 4 của ASEAN,... Việc khơi dậy, phát huy đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân Việt Nam chưa được quan tâm tương xứng, chưa thật sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững cho đất nước. Do đó, đội ngũ doanh nhân cần tiếp tục nghiên cứu, có giải pháp mới để xây dựng và phát huy vai trò của mình gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Cùng với đó là những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về nâng cao năng lực, phẩm chất, chất lượng nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân đủ tài, đủ tâm và đủ tầm để đáp ứng được những thay đổi và thách thức ngày càng lớn của môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế,... Chủ động, linh hoạt, sáng tạo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa Cao Tiến Đoan. Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa Cao Tiến Đoan, nhờ có những chủ trương, chính sách hỗ trợ đúng, trúng của Chính phủ và Quốc hội, sau hơn hai năm chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp đã thích ứng và vực dậy, nắm bắt những cơ hội mới để phát triển. Từ đó, giúp năng lực của đội ngũ doanh nhân là chủ các doanh nghiệp cải thiện rõ rệt. Song cũng phải nghiêm túc nhìn nhận một thực tế số lượng và chất lượng đội ngũ doanh nhân chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hiệu quả hoạt động chưa cao. Vì vậy, Chính phủ cần có thêm những cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển văn hóa doanh nghiệp để trở thành một lợi thế cạnh tranh trên sân chơi toàn cầu; đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng công nghệ mới vào mô hình quản trị, phương thức điều hành; đầu tư, nghiên cứu hơn nữa trong sản xuất, kinh doanh để chủ động thích ứng với thị trường. Cùng với đó, trong thời gian tới mong Quốc hội tiếp tục tăng cường tính giám sát nhằm giúp cộng đồng doanh nghiệp có thêm niềm tin trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo sự yên tâm, giảm sự rủi ro, tránh được những biến động bất ngờ trong thể chế, chính sách để bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh luôn an toàn, thuận lợi và ổn định cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu rộng, hiệu quả dựa trên ba trụ cột là con người, tài nguyên thiên nhiên và truyền thống lịch sử, văn hóa, do đó, cần phát huy tối đa năng lực, phẩm chất, trí tuệ của người Việt Nam trong mỗi doanh nhân; xây dựng văn hóa lành mạnh, văn minh, chuyên nghiệp, bình đẳng trong doanh nhân, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên hết; bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn năm 2021-2030 trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra nhiệm vụ, phải phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế; phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất hai triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt từ 60-65%. Điều này thể hiện khát vọng của dân tộc nhưng cũng đặt ra rất nhiều những áp lực, thách thức cho cả hệ thống chính trị. Chủ tịch VCCI Phạm Tấn Công. Để hiện thực khát vọng này, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Phạm Tấn Công cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân cần chủ động trau dồi thêm kiến thức pháp luật kinh doanh, nâng cao trình độ, kinh nghiệm trong quản lý, tính chuyên nghiệp; linh hoạt, sáng tạo hơn nữa trong cạnh tranh và hội nhập; từng bước xây dựng văn hóa liêm chính, đạo đức trong kinh doanh, cũng như tạo thêm sự liên kết phát triển chặt chẽ giữa các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh sự nỗ lực từ cộng đồng doanh nghiệp, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng bảo vệ, khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn chân chính, đổi mới sáng tạo; ngăn ngừa doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn phi pháp; thường xuyên lắng nghe và giải quyết kịp thời tâm tư nguyện vọng của doanh nhân, tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó, khơi dậy, khuyến khích, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kinh doanh, khát vọng làm giàu chân chính trong xã hội. Thời gian qua, DNVVN là động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước. Từ năm 2001 đến 6/2008 đã có DN, chủ yếu là các DNNVV đăng ký mới với số vốn đăng ký tỷ đồng, đưa tổng số các DN trong cả nước lên DN với tổng số vốn đăng ký trên tỷ đồng. Năm 2008 ước tính cứ 243 người có 1 DN đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, nếu so với mục tiêu phát triển KTXH và mục tiêu mà các nền kinh tế APEC phấn đấu đạt 1 DN trên 20 người dân và so với các quốc gia khác trong khu vực, tỷ lệ này vẫn còn rất thấp [47]. Sự phát triển của các DNVVN trong những năm qua có một số đặc điểm sau - Số lượng DN ngoài quốc doanh, mà phần lớn trong số đó là DNVVN tăng lên nhanh chóng, trong khi khu vực kinh tế tập thể và DN nhà nước đang được sắp xếp lại theo xu hướng giảm về số lượng. Loại hình doanh nghiệp tư nhân có tốc độ tăng nhanh nhất so với các loại hình khác trừ nhóm hộ kinh doanh cá thể. Theo thống kê, chỉ có khoảng gần 6% tổng số DN ngoài quốc doanh thành lập trước năm 1990, còn lại là ra đời trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay [43-tr36]. - Khu vực DNVVN ngoài quốc doanh trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 8,4%/năm 2006 - 9,3%/năm 2007, cao hơn mức trung bình của cả nước năm 2006 8,23; năm 2007 8,48 [41]. Điều đó phản ánh tiềm năng của khu vực DNVVN đang được huy động và phát huy. - Thực tế cho thấy, trong những năm qua các nhà đầu tư chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành ít vốn, thu hồi vốn nhanh như thương mại, dịch vụ nhà hàng, du lịch. Chỉ có khoảng hơn 30% vốn đầu tư được dành cho các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản và công nghiệp chế biến. Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp chế biến ra đời và phát triển nhanh một phần không nhỏ do chính sách đầu tư mạnh của Nhà nước vào xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, văn phòng làm việc, các khu đô thị, đường giao thông, điện,… - Thủ tục thành lập DN đơn giản, qui mô vốn đăng ký của DN mới thành lập giảm đi, nhất là đối với DNTN và công ty TNHH. Do đó tỷ lệ DNVVN trong tổng số các DN ngoài quốc doanh mới thành lập ngày càng lớn. - Như đã đề cập ở trên, có thể khẳng định rằng DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào. Do vậy, hỗ trợ DNVVN phát triển cũng được coi là một yêu cầu cấp thiết, vì điều này không chỉ có lợi cho DN, mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội. - Quá trình tồn tại và phát triển của các DNVVN cho thấy loại hình DN này còn nhiều non kém, yếu ớt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt với những hạn chế như đã đề cập ở trên năng lực quản lý yếu, công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin, vốn ít,... Vì vậy, để các DN này phát huy được vai trò của mình, nhất thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Hơn nữa, có nhiều vấn đề mà DN không thể tự mình giải quyết được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực,... Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác nếu có sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ làm giảm bớt khó khăn cho DN, tạo điều kiện cho DNVVN đứng vững trên thị trường và phát triển thuận lợi. Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy chính sách hỗ trợ của Nhà nước không chỉ có lợi cho DN, mà còn có lợi cho cả Nhà nước và xã hội. Lợi ích đó được thể hiện trên các mặt sau + Đầu tiên, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các DN là cách thức để nuôi dưỡng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. + Hỗ trợ DN là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước, thay vì đầu tư trực tiếp để thành lập các DN nhà nước. Bằng những chính sách như hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ đào tạo nhân lực,.. Nhà nước có thể định hướng phát triển các DNVVN, nhằm giải quyết những vấn đề xã hội như thất nghiệp, nâng cao đời sống cho người dân. Mặt khác góp phần tăng tính hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước. Thay vì chỉ thành lập mới được một số ít DN nhà nước, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho nhiều DN khởi nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong đó có các DNVVN. + Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển sản xuất sẽ hiệu quả hơn, vì vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân, vừa thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước. Phát triển trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu doanh nghiệp bất động sản giai đoạn 2017-2022 Giai đoạn vừa qua, thị trường trái phiếu nói chung và TPDN nói riêng đã có những bước phát triển tích cực. Quy mô thị trường trái phiếu cuối năm 2021 đạt 39,26% GDP, đến cuối năm 2022 đạt 40,76% GDP mục tiêu đề ra của giai đoạn 2021-2025 là 47% GDP; dư nợ thị trường TPDN cuối năm 2021 đạt 15% GDP, trong đó tổng khối lượng phát hành riêng lẻ là tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2020. Đến cuối năm 2022 dư nợ thị trường TPDN đạt khoảng 16% GDP theo Báo cáo số 13362/BTC-NSNN ngày 20/12/2022 của Bộ Tài chính về kết quả thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, tổng dư nợ TPDN riêng lẻ khoảng tỷ đồng. Nhìn chung, thị trường TPDN còn khá khiêm tốn so với tiềm năng và mục tiêu đề ra Chiến lược tài chính đến năm 2030 đặt ra mục tiêu quy mô thị trường TPDN đến năm 2025 là 20% GDP và đến năm 2030 đạt tối thiểu 25% GDP. Hình 1 Khối lượng TPDN phát hành giai đoạn 2017-2022 Nguồn Trần Đình Thiên 2023 Hình 2 Cơ cấu TPDN năm 2021-2022 Nguồn FiinRatings, HNX 2023 Trong tổng dư nợ thị trường TPDN, TPDN của BĐS chiếm tỷ lệ khá cao. Năm 2021, BĐS chiếm đến 41% tổng dư nợ TPDN. Năm 2022, mặc dù tỷ lệ này có giảm xuống những vẫn chiếm 32% tổng dư nợ TPDN và đạt khoảng tỷ đồng Thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Giá trị TPDN BĐS đáo hạn cũng chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng dư nợ TPDN đáo hạn giai đoạn 2022-2026. Theo đó, tổng lượng TPDN đáo hạn trong giai đoạn 2022-2026 ước đạt 774,23 nghìn tỷ đồng, trong đó TPDN BĐS là 358,36 nghìn tỷ đồng, chiếm 46,3 % tổng giá trị TPDN đến hạn. Áp lực trái phiếu đến hạn thanh toán lớn, trong bối cảnh thị trường BĐS trầm lắng, doanh thu và chất lượng lợi nhuận suy giảm… có thể dẫn đến số lượng doanh nghiệp DN gặp khó khăn về khả năng thanh toán gia tăng. Theo kết quả đánh giá của Fiin Group 2023, khả năng trả nợ của tất cả các DN BĐS trong giai đoạn 2018-2022 đều suy giảm Hình 4. Điều này cũng dẫn đến khả năng huy động vốn trên thị trường trái phiếu gặp nhiều hạn chế và gia tăng các rủi ro tái cấp vốn của DN kinh doanh BĐS. Những tác động đến thị trường bất động sản giai đoạn 2017-2022 Sự bổ sung kịp thời của dòng vốn TPDN trong giai đoạn vừa qua đã tạo ra những kết quả phát triển khá tích cực cho thị trường BĐS, cụ thể Một là, TPDN đã tạo ra một nguồn vốn lớn, ổn định, liên tục, thông suốt cho thị trường BĐS, đặc biệt khi các ngân hàng thực hiện phương án siết chặt nguồn vốn vay đổ vào BĐS. Trong giai đoạn 2017-2022, tổng lượng vốn trái phiếu phát hành vào khoảng 1,3 triệu tỷ. Trong đó, một tỷ lệ rất lớn khoảng trên dưới 50% được dành cho thị trường BĐS. Nhờ sự bổ sung của nguồn vốn này hàng loạt các dự án BĐS mới được phát triển như các dự án tại Hạ Long, Cam Ranh, Đà Nẵng… Hai là, việc phát triển thị trường TPDN BĐS đã làm đa dạng thêm các luồng tiền vào thị trường BĐS, qua đó, chứng minh công cụ trái phiếu có thể phát triển lành mạng cùng với các công cụ huy động vốn khác, giúp DN BĐS giảm sự phụ thuộc lớn vào nguồn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng hay tiền đóng góp từ các nhà đầu tư tiềm năng như trước đây. Hơn nữa, việc hiện thực hóa được công cụ trái phiếu với thị trường BĐS còn đóng góp vai trò thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các công cụ tài chính khác mà hiện chưa được hình thành và phát triển tại Việt Nam, để tạo vốn cho thị trường BĐS. Chẳng hạn như công cụ tái thế chấp; công cụ quỹ tiết kiệm tương hỗ, công cụ chứng khoán hóa các khoản thế chấp BĐS; công cụ quỹ đầu tư tín thác BĐS; quỹ đầu tư hưu trí… Ba là, trái phiếu BĐS đã góp phần thu hút một lượng vốn trong xã hội trong bối cảnh đại dịch, giãn cách xã hội và nhiều ngành sản xuất phải điều chỉnh, thu hẹp. Qua đó, ngoài việc tạo nguồn thu cho những người sở hữu trái phiếu thông qua tiền lãi, trái phiếu còn tạo dòng tiền vận hành trong xã hội. Nghĩa là, trái phiếu đã hỗ trợ nền kinh tế nói chung và thị trường BĐS nói riêng tránh được thiệt hại do dòng vốn ngừng vận động. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, TPDN cũng tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực đến nhịp độ phát triển của thị trường BĐS. Một số tác động tiêu cực cụ thể như sau Một là, các DN phát hành lượng trái phiếu quá lớn, làm mất cân đối giữa các luồng tiền đối với thị trường BĐS. Thị trường BĐS thông thường có các luồng vốn cơ bản i Luồng vốn trực tiếp từ các DN phát triển BĐS, các nhà đầu tư thứ cấp BĐS, tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại…; ii Luồng vốn từ các chủ thể đồng hành FDI, ODA, Đầu tư công, chứng khoán, kiều hối…; iii Các công cụ tài chính phái sinh Trái phiếu; quỹ đầu tư; hệ thống tái thế chấp; đầu tư chung tài sản là BĐS với số hạn mức sử dụng nhất định - timeshare; quỹ hưu trí…. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2019-2021, các luồng vốn khác hầu như không đổi, chỉ có luồng vốn từ trái phiếu tăng mạnh. Hệ quả là, khi luồng vốn này chịu kiểm soát và điều chỉnh, chế tài, thị trường BĐS bị ảnh hưởng rõ nét. Cùng với đó, lượng vốn đến hạn của năm 2023 lớn làm các DN đối mặt với khó khăn về thanh khoản, từ đó, làm thị trường BĐS gặp khó khăn. Mặc dù, lượng trái phiếu đáo hạn là 157,8 nghìn tỷ nhưng một số lượng lớn trái phiếu các DN phát hành phải mua lại trước hạn và trả lãi đã gây nên sức ép lớn cho các DN phát hành trái phiếu. Từ đó, gây nên tình trạng hạn chế tăng thêm vốn cho thị trường BĐS. Hai là, lãi suất đầu tư vào trái phiếu BĐS cao dẫn đến rủi ro về khả năng trả nợ của DN. Nếu lãi suất huy động của các ngân hàng trong giai đoạn 2017-2022 hầu như ở mức thấp từ 5% - 5,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng thì kênh huy động vốn từ trái phiếu BĐS được nhiều nhà đầu tư lựa chọn hơn bởi mức lãi suất vô cùng hấp dẫn từ 8% - 10%/năm. Tuy nhiên, lãi suất càng cao thì rủi ro tiềm ẩn sẽ càng lớn. Bởi nếu DN phát hành trái phiếu với lãi suất càng cao để thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn vào mà bản thân DN không cung cấp được đầy đủ các thông tin cần thiết, không có sự quản lý, giám sát của cơ quan chức năng và điều này sẽ dẫn đến tình trạng các DN không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Không chỉ vậy, việc đầu tư vào trái phiếu BĐS một cách tràn lan của nhà đầu tư kết hợp với sự “tích cực” trong quá trình phát hành từ các DN, từ đó, hiện tượng “bong bóng” trên thị trường trái phiếu BĐS nói riêng và thị trường chứng khoán là không thể tránh khỏi. Ba là, phát hành trái phiếu BĐS không có tài sản bảo đảm hoặc có tài sản bảo đảm là cổ phiếu. Theo báo cáo từ SSI Research 2022, các DN BĐS vẫn là nhóm phát hành trái phiếu với giá trị lớn nhất, tổng cộng tỷ đồng trong năm 2021, chiếm 44% tổng lượng TPDN đã phát hành và tăng 66,3% so với năm 2020. Tuy nhiên, số trái phiếu không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm một phần hoặc toàn bộ bằng cổ phiếu lên đến tỷ đồng, chiếm 54,2% lượng phát hành năm 2021. Việc phát hành trái phiếu BĐS mà không có tài sản bảo đảm ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của nhà đầu tư. Trường hợp DN rơi vào tình trạng “vỡ nợ” thì các nhà đầu tư sẽ là chủ thể phải gánh chịu nhiều rủi ro nhất. Bên cạnh đó, việc sử dụng cổ phiếu làm tài sản bảo đảm cho số trái phiếu BĐS phát hành trên thị trường diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng tài sản bảo đảm là cổ phiếu DN khi phát hành trái phiếu BĐS sẽ chứa đựng nhiều rủi ro. Cụ thể, khi một DN rơi vào tình trạng không còn khả năng trả nợ, tài chính bị ảnh hưởng thì giá cổ phiếu trên sàn sẽ giảm hoặc không còn giá trị. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của DN hoặc DN sẽ bị thâu tóm bởi các DN khác, qua đó ảnh hưởng đến sự hoạt động ổn định, lành mạnh của thị trường BĐS. Bốn là, các điểm nghẽn xuất hiện trong quá trình phát triển thị trường TPDN đem lại cho thị trường BĐS có thể kéo theo tâm lý không thuận lợi đối với việc chấp nhận các công cụ huy động vốn mới cho thị trường như công cụ tái thế chấp; quỹ đầu tư trong đó có công cụ - quỹ đầu tư tín thác BĐS – REIT – Teal Estate Investment Trust; quỹ tiết kiệm tương hỗ; quỹ tiết kiệm hưu trí… Có nhiều nguyên nhân làm cho trái phiếu BĐS gây nên những hệ lụy cho thị trường BĐS giai đoạn 2019-2023. Thứ nhất, do các nguồn vốn khác khó khăn, trong khi nhu cầu luồng tiền lớn nên các DN đã dựa hẳn vào nguồn vốn trái phiếu. Trong giai đoạn 2019-2022, trùng với thời gian diễn ra đại dịch COVID-19, rất nhiều ngành sản xuất giãn tiến độ sản xuất, lượng vốn trong xã hội khó luân chuyển. Một lượng tiền tìm tới thị trường BĐS như một hành động trú ẩn. Hệ quả là giá BĐS tăng. Như là một yếu tố tác động kéo theo, nhiều DN BĐS triển khai nhiều dự án – đặc biệt là các dự án BĐS cao cấp. Đến lượt mình, thị trường BĐS tăng nhu cầu vốn. Tuy nhiên, thị trường vốn những năm 2019-2022 không tăng trưởng như mong muốn. Trong khi đó, công cụ TPDN còn dư địa. Hệ quả là các DN nói chung và các DN BĐS nói riêng, chuyển trọng tâm thu hút vốn thông qua TPDN. Việc ồ ạt phát hành trái phiếu BĐS đã khiến các DN và nhà đầu tư phải đối mặt với nhiểu rủi ro. Thứ hai, thông tin về sự thu hút tổng vốn trái phiếu không thông suốt nên tổng lượng trái phiếu do các DN phát hành đã tăng bất thường, vượt quá năng lực của nền kinh tế. Một lượng vốn thu hút trên thị trường cũng như việc sử dụng nguồn tiền cần phải đảm bảo đúng mục đích và phải được kiểm soát một cách tổng thể và sát xao. Trong thực tiễn những năm 2019-2022, vì nhiều lý do, điều này đã không được thực hiện một cách đồng bộ. Đã có những vi phạm xảy ra, có một số DN phát hành trái phiếu đã không sử dụng đúng mục đích. Hệ quả là, thị trường trái phiếu BĐS nói riêng và thị trường BĐS nói chung bị ảnh hưởng về tính an toàn và tính thanh khoản. Thứ ba, thị trường trái phiếu phản ứng thái quá - khi thuận lợi thì mở ra quá lớn – khi bất lợi thì thu hẹp quá nhiều. Vì vậy, nó tạo ra những tác động ngoại sinh, đôi khi rất khó lường cho thị trường BĐS nói riêng và nền kinh tế nói chung. Thứ tư, do sự chưa hoàn thiện của hệ thống luật pháp Để thị trường phát triển bình ổn, lành mạnh, các chính sách tài chính, tiền tệ, đất đai, xây dựng, BĐS, đầu tư, đầu tư công, đất thầu, quy hoạch phải được xây dựng và vận hành đồng bộ. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập. Hệ quả là, các DN BĐS nói riêng và thị trường BĐS nói chung bị ảnh hưởng. Đối với vấn đề trái phiếu BĐS, các nội hàm về tính chưa đồng bộ cũng không phải ngoại lệ. Theo báo cáo từ SSI Research 2022, các doanh nghiệp bất động sản vẫn là nhóm phát hành trái phiếu với giá trị lớn nhất, tổng cộng tỷ đồng trong năm 2021, chiếm 44% tổng lượng trái phiểu doanh nghiệp đã phát hành và tăng 66,3% so với năm 2020. Tuy nhiên, số trái phiếu không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm một phần hoặc toàn bộ bằng cổ phiếu lên đến tỷ đồng, chiếm 54,2% lượng phát hành năm 2021. Việc phát hành trái phiếu bất động sản mà không có tài sản bảo đảm ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của nhà đầu tư. Thứ năm, do điều hành chưa đồng bộ, thông suốt đối với thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường BĐS nói chung. Những năm 2012-2018, thị trường condotel-officetel phát triển mạnh nhưng không có chế tài pháp luật đủ tốt tương ứng. Hệ quả là thị trường condotel-officetel phát triển cực đỉnh vào năm 2018 rồi thoái trào. Tình trạng tương tự đang xảy ra đối với thị trường trái phiếu BĐS. Việc thị trường trái phiếu BĐS manh nha từ năm 2017 và phát triển mạnh vào năm 2019-2021 đã làm cho trái phiếu nói chung và trái phiếu BĐS nói riêng tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, năm 2022, cùng với việc kiểm soát tín dụng; trái phiếu BĐS được kiểm soát. Do không được cảnh báo trước nên các biện pháp khá đột ngột đối với các DN phát hành trái phiếu nói chung và trái phiếu BĐS nói riêng chẳng hạn như phải mua lại trước hạn các trái phiếu. Hệ quả là, DN phát hành trái phiếu BĐS gặp khó khăn và thị trường BĐS bị ảnh hưởng. Quan điểm, định hướng phát triển thị trường bất động sản và trái phiếu bất động sản Phát triển thị trường BĐS an toàn, lành mạnh, bền vững được xem là một trong những quan điểm lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định quan điểm phát triển đồng bộ thị trường các nhân tố sản xuất như là một yếu tố quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Theo đó, giai đoạn 2021-2025, "tiếp tục vận hành đồng bộ thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động, thị trường BĐS, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường tài chính... theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế”. Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các định hướng phát triển thị trường BĐS cũng đã được thể hiện trong các nghị quyết của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ. Cụ thể 1 Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; 2 Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao; 3 Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 ban hành theo Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 22/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường BĐS phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững... đã khẳng định phát triển thị trường BĐS là một nội dung quan trọng trong phát triển nền kinh tế trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Cùng với đó, các định hướng phát triển trái phiếu BĐS được điều chỉnh dưới tác động của Nghị định số 08/2023/NĐ-CP ngày 5/3/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số điều tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch TPDN riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán TPDN ra thị trường quốc tế. Theo đó, đây là một hướng mở để giải quyết các vấn đề tồn tại trên thị trường trái phiếu nói chung và thị trường trái phiếu BĐS nói riêng. Một số khuyến nghị chính sách Việc Đảng, Nhà nước và Chính phủ tập trung chỉ đạo, ban hành các văn bản và chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong đó có vấn đề TPDN là một trong những động lực, quan trọng cho thị trường BĐS. Tuy nhiên, trong thực hiện cần Một là, đồng bộ, linh hoạt, chặt chẽ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định môi trường đầu tư, đảm bảo sự nhất quán, ổn định chính sách để nhà đầu tư yên tâm tham gia hoạt động, đầu tư trên thị trường TPDN BĐS nói riêng và thị trường BĐS nói chung. Hai là, nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý cho trái phiếu BĐS. Cần hoàn thiện thể chế với việc định giá, phát hành, tư vấn, mua bán trái phiếu BĐS, quy định rõ ràng tổ chức, định chế nào được tư vấn, tổ chức nào được xếp hạng tín nhiệm, tổ chức nào được mua bán sản phẩm nợ. Bên cạnh đó, cần có những sửa đổi quy định về định giá đất theo hướng đơn vị tư vấn khung giá và đơn vị thẩm định giá phải độc lập với cơ quan làm chính sách, cơ quan quản lý và giám sát về đất đai, cơ quan đại diện chủ sở hữu. Ba là, triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện chính sách theo hướng tăng cường quản lý giám sát thị trường trái phiếu BĐS, nâng cao chất lượng hàng hóa, cải thiện chất lượng của các tổ chức cung cấp dịch vụ… Rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển các nhà đầu tư chuyên nghiệp, nhà đầu tư dài hạn quỹ đầu tư để tạo cầu đầu tư bền vững cho thị trường. Đồng thời, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến trái phiếu BĐS, làm trong sạch thị trường chứng khoán và thị trường TPDN. Kiểm soát các hoạt động phát hành trái phiếu BĐS một cách ồ ạt ra thị trường, buộc các DN phải cân nhắc thật cẩn trọng và xây dựng chiến lược an toàn. Bốn là, tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường, tiếp tục theo dõi, yêu cầu các DN phải bố trí nguồn lực để thanh toán gốc và lãi trái phiếu đến hạn theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Yêu cầu các DN nếu có khó khăn trong thanh toán thì phải làm việc, đàm phán với các nhà đầu tư để thống nhất phương án cơ cấu lại trái phiếu. Khẩn trương xây dựng và đưa hệ thống giao dịch TPDN riêng lẻ vào hoạt động nhằm phát triển thị trường thứ cấp minh bạch, an toàn, tăng cường khả năng quản lý, giám sát, giảm thiểu rủi ro. Năm là, nghiên cứu xây dựng các quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính trong thị trường BĐS – trong đó có trái phiếu Gắn việc tạo lập các chỉ số an toàn thị trường BĐS với việc ban hành hệ thống chỉ số liên quan đến thị trường đất đai, nhà ở và BĐS. Đưa nội dung này vào Luật Đất đai sẽ sửa đổi và thông qua năm 2023; Luật Nhà ở sẽ sửa đổi và thông qua năm 2023 và Luật kinh doanh BĐS sẽ sửa đổi và thông qua năm 2023. Sáu là, tăng cường công tác truyền thông về trái phiếu, về công cụ tài chính, về thị trường BĐS theo hướng phản ánh đúng tình hình, có cảnh báo theo hướng công khai, minh bạch, dự báo được. Tăng cường công tác truyền thông ổn định tâm lý, tạo dựng lại niềm tin của nhà đầu tư, giúp các DN, nhà đầu tư an tâm tham gia huy động và đầu tư trên thị trường vốn. Bảy là, DN phát hành trái phiếu BĐS cần tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch thông tin. Nhiều trường hợp DN sẽ che giấu một số thông tin khiến nhà đầu tư không thể đánh giá được thị trường, các rủi ro tiềm ẩn dẫn đến việc nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng về quyền lợi. Giải pháp hiệu quả, kịp thời để khắc phục vấn đề công bố thông tin, cơ quan quản lý nhà nước đã bổ sung thêm các yêu cầu đối với các DN phát hành trái phiếu nói chung và trái phiếu BĐS nói riêng. Tóm lại Tóm lại, để thị trường BĐS vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, phụ thuộc và việc triển khai các chủ trương, văn bản đã được ban hành. Tuy nhiên, cũng còn cần lưu ý đến các điều kiện quốc tế tác động đến kinh tế Việt Nam. Nếu mọi vấn đề được diễn ra thuận lợi, một chu kỳ mới của thị trường BĐS sẽ hình thành. Cũng như vậy, các công cụ tài chính BĐS sẽ ra đời, phát triển đóng góp vào sự phát triển của thị trường BĐS. Tài liệu tham khảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Bộ Tài chính, Báo cáo số 13362/BTC-NSNN ngày 20/12/2022 về kết quả thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế; Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Thực tiễn năm 2022 và triển vọng năm 2023. Trần Đình Thiên, 2023, Kinh tế tư nhân Việt Nam triển vọng trong bối cảnh mới, Hội thảo khoa học toàn quốc lần thứ nhất. Đà Nẵng, 21-22/3/2023; Các website

sự phát triển của doanh nghiệp việt nam